QĐND-Ngã ba Đồng Lộc nằm trên địa bàn xã Đồng Lộc, huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh. Trong những năm chống Mỹ cứu nước, đây là một trọng điểm hết sức ác liệt, hố bom chồng lên hố bom, không còn một cành cây, ngọn cỏ. Để bảo đảm giao thông được thông suốt, chúng ta đã hy sinh hàng trăm cán bộ, chiến sĩ và thanh niên xung phong. Chỉ riêng Trung đoàn Phòng không 210 bảo vệ ngã ba Đồng Lộc đã có đến 120 liệt sĩ. Trong thời gian chiến tranh, trọng điểm này đã sinh ra ba Anh hùng LLVT nhân dân (trong đó có “người con gái sông La” La Thị Tám) cũng nói lên một phần sự khốc liệt ở ngã ba này. Nói đến sự hy sinh anh dũng ở ngã ba Đồng Lộc, chúng ta không thể không nhắc tới mười cô gái, mà hình ảnh của họ hơn bốn mươi năm qua đã in đậm trong tâm trí mọi người.
Cuối chiều ngày 24-7-1968, mười cô gái Tiểu đội 4 thanh niên xung phong do Võ Thị Tần làm Tiểu đội trưởng được lệnh ra mặt đường để san lấp hố bom do máy bay Mỹ vừa trút xuống. Khi mười cô đang mê mải san lấp hố bom, thì có hai chiếc máy bay phản lực của Mỹ từ biển bay vào trút bom xuống trọng điểm. Khói bom tan, đồng đội quanh vùng kéo đến thì không thấy bóng dáng một người nào trước quang cảnh những hố bom mới toang hoác, đất tung lên lấp kín một vùng rộng. Mọi người tìm đến vị trí có căn hầm chữ A, lúc đó đã bị vùi sâu dưới đất, cùng nhau đào đất, bới lên chỉ thấy thi thể của chín cô, tất cả bị chết do sức ép của bom, còn Tiểu đội phó Hồ Thị Cúc thì không thấy đâu. Suốt đêm 24 và sáng ngày 25, đồng đội đã đào tìm, nhưng đều không hiệu quả. Có người đề nghị làm lễ gọi hồn Hồ Thị Cúc để may ra biết được nơi cô đang bị bom vùi. Thế là người ta chuẩn bị một bát cơm úp (hai bát cơm úp vào nhau để được một bát thật đầy mà ở miền Bắc thường gọi là cơm lồng), một quả trứng luộc, một đôi đũa cắm xuống bát cơm. Thông thường, người ta gọi hồn bằng những lời đơn giản, nhưng trong trường hợp này, lời gọi hồn lại bằng… thơ. Nguyên nhân là trong số cán bộ phụ trách giao thông ở ngã ba này có kỹ sư Nguyễn Thanh Bính, một người thường sáng tác thơ với bút danh Yến Thanh, rất quen thân với Hồ Thị Cúc, đã từng tham gia dạy bổ túc văn hóa cho thanh niên xung phong ở đây. Và chính Nguyễn Thanh Bính đã đứng trước bát cơm, quả trứng, trước khói hương nghi ngút của một vùng ngổn ngang đất đá và hố bom… đọc bài thơ gọi hồn:
CÚC ƠI
Tiểu đội về xếp một hàng ngang
Cúc ơi
Em ở đâu không về tập hợp
Chín bạn đã quây quần đủ mặt:
Nhỏ - Xuân - Hà
Hường - Hợi - Rạng - Xuân - Xanh
A trưởng Võ Thị Tần điểm danh
Chỉ thiếu mình em
(Chín bỏ làm mười răng được?)
Bọn anh đã bới tìm vẹt cuốc
Đất sâu bao nhiêu bọn anh không cần
Chỉ sợ em đau nên nhát cuốc chùng.
Cúc ơi, em ở đâu?
Đất nâu lạnh lắm
Da em thì xanh
Áo em thì mỏng
Cúc ơi, em ở đâu?
Về với bọn anh tắm nước trong Ngàn Phố
Ăn quýt đỏ Sơn Bằng
Chăn trâu, cắt cỏ
Bài toán lớp 5 em còn chưa nhớ
Gối còn thêu dở
Cơm chiều chưa ăn.
Em ở đâu hỡi Cúc
Đồng đội tìm em: đũa găm cơm úp
Gọi em
Gào em
Khản cả giọng rồi
Cúc ơi…ời…ơi!
Ngã ba Đồng Lộc, 25-7-1968
YẾN THANH (Nguyễn Thanh Bính)
Ngày nay, ngã ba Đồng Lộc đã trở thành Khu Di tích lịch sử của Thanh niên xung phong cả nước. Mỗi ngày có hàng chục đoàn khách trong và ngoài nước đến viếng mộ mười cô gái, và khi đó, người giới thiệu, cùng với việc kể về tấm gương hy sinh của mười cô là đọc bài thơ này, làm người nghe không cầm được nước mắt. Càng cảm động hơn, nếu như ta hình dung mình đang có mặt ở ngã ba Đồng Lộc hôm làm lễ gọi hồn. Câu thơ mở đầu tự nhiên nhưng chứa đựng một nội dung hết sức đặc biệt. “Tiểu đội về xếp một hàng ngang”. Thanh niên xung phong sinh hoạt giống như quân đội, nghĩa là trước khi đi làm một nhiệm vụ gì thì xếp hàng ngang, để nghe tiểu đội trưởng phổ biến yêu cầu, mục đích công việc. Tiểu đội trưởng là Võ Thị Tần điểm danh, còn Hồ Thị Cúc là Tiểu đội phó, trong các lần tập hợp như vậy, luôn luôn đứng cuối hàng khi xếp hàng dọc và đứng về bên phải khi xếp hàng ngang. Đó là sự xếp hàng thông thường, nhưng hôm nay, cuộc xếp hàng này thật đặc biệt và cảm động làm sao: Thi thể của chín cô gái (trừ Hồ Thị Cúc) được đồng đội lấy ra từ căn hầm chữ A bị bom vùi đang xếp thành hàng ngang trên đất hố bom! Nếu như có Hồ Thị Cúc ở đó thì có lẽ đơn vị đã lo chuyện mai táng rồi, nhưng vì chưa tìm được Cúc, nên chín bạn còn nằm “chờ” như vậy. Thế “Em ở đâu không về tập hợp”, tác giả vừa hỏi, vừa nhắc tới tính kỷ luật vốn có của Cúc, để gọi em về cùng các bạn: Nhỏ - Xuân - Hà - Hường - Hợi - Rạng - Xuân - Xanh. Bạn đọc lưu ý rằng, trong mười liệt sĩ này có hai cô tên là Xuân, nhưng khác họ: Một cô là Nguyễn Thị Xuân, cô kia là Dương Thị Xuân. Với lòng yêu mến, trân trọng các liệt sĩ, chúng ta không chỉ nhớ tên mà nhớ cả họ của mười cô gái: Võ Thị Tần, Hồ Thị Cúc, Võ Thị Hợi, Nguyễn Thị Xuân, Dương Thị Xuân, Trần Thị Rạng, Hà Thị Xanh, Nguyễn Thị Nhỏ, Võ Thị Hà, Trần Thị Hường. Người nhiều tuổi nhất (Võ Thị Tần và Hồ Thị Cúc) là 24; người ít tuổi nhất (Trần Thị Hường) là 17.
 |
|
Cán bộ Binh đoàn 12 thăm Khu mộ 10 cô gái thanh niên xung phong xúc động nghe người giới thiệu đọc bài thơ “Cúc ơi” của Yến Thanh. Ảnh: Hồng Sơn.
|
Cả đoạn đầu của bài thơ kêu gọi Cúc trở về với đồng đội, vì: “Chỉ thiếu một mình em/ Chín bỏ làm mười răng được”. Tác giả là người đồng hương Hà Tĩnh, ông nói với Cúc bằng một số từ địa phương, và nhắc tới một câu thành ngữ quen thuộc nhưng không thể dùng được trong hoàn cảnh này: “Chín bỏ làm mười” là thành ngữ chỉ sự phiên phiến, nhưng ở đây, mười cô gái hy sinh mà mới tìm được chín thi thể, thì không thể “phiên phiến” được. Tác giả là người trực tiếp cùng đồng đội bới tìm Hồ Thị Cúc. Đất bom đào lấp lên hàng mấy thước, nhấn chìm người bị nạn xuống sâu, nhưng với quyết tâm của những người đến cứu, “đất sâu bao nhiêu bọn anh không cần”, không quan tâm, không nhụt chí, miễn làm sao cứu được em. Ai đã từng tham gia cứu người bị bom vùi mà chưa xác định được vị trí cụ thể đều gặp một mâu thuẫn sau: Vừa muốn bới đào thật mạnh, thật nhanh để tranh thủ thời gian cứu người bị nạn, lại e sợ lưỡi cuốc của mình chạm phải nạn nhân nên không dám cuốc mạnh “chỉ sợ em đau nên nhát cuốc chùng”.
Cúc ơi, em ở đâu?
Đất nâu lạnh lắm
Da em thì xanh
Áo em thì mỏng
Cúc ơi, em ở đâu?
Dưới đất sâu lạnh lẽo chẳng hề phù hợp với em, một cô gái da xanh, áo mỏng, em nên về với đồng đội đi. Và, muốn trở về với đồng đội thì chỉ có cách báo cho biết “em ở đâu”. Điệp khúc “em ở đâu” được tác giả nhắc đến nhiều lần. Tác giả nhắc lại những kỷ niệm gắn bó với Hồ Thị Cúc như “nước trong Ngàn Phố”, “quýt đỏ Sơn Bằng” là những “đặc sản” của huyện Hương Sơn, quê của Cúc. Đó là lời níu gọi từ quê hương, còn đây là lời gọi em trở về từ những việc chưa làm được hoặc còn dang dở:
Bài toán lớp 5 em còn chưa nhớ
Gối còn thêu dở
Cơm chiều chưa ăn…
Chi tiết “cơm chiều chưa ăn” làm người đọc rưng rưng nước mắt, bởi như thế nghĩa là trước khi chết, Cúc và đồng đội còn đói! Mà bữa cơm của thanh niên xung phong trong thời kỳ ấy đạm bạc vô cùng. Trong chiến tranh, một lần đi công tác, do bị hỏng xe nên tôi được gửi lại, ăn nhờ ở một đơn vị thanh niên xung phong thuộc huyện Kỳ Anh, Hà Tĩnh trong ba ngày, bữa nào cũng chỉ có hai bát cơm độn ngô với một bát canh rau lang nấu mắm tôm… Nhưng ở ngã ba Đồng Lộc còn kham khổ hơn. Trong bài “Lời thỉnh cầu ở nghĩa trang Đồng Lộc” tôi có viết về chuyện ăn ở đây: “Bữa ăn cuối cùng mười chị em không có gạo/ Nắm mì luộc chia nhau rồi vác cuốc ra đường”, được ông Nguyễn Tiến Tuẫn, một trong ba anh hùng ở ngã ba này tâm đắc vì nói đúng “bữa cơm” không có cơm trong nhiều tháng liền của họ.
Đồng đội gọi, quê hương gọi và những việc làm dang dở gọi chắc đã thấu cõi tâm linh hay vì một sự ngẫu nhiên mà sau khi bài thơ gọi hồn vừa đọc xong thì người ta phát hiện ra nơi Hồ Thị Cúc bị bom vùi: Đó là một chiếc hầm cá nhân cách hầm chữ A trên hai chục thước. Khi nhát cuốc chạm phải cán xẻng dựng ngược thì anh em thận trọng và khẩn trương đào từng lớp đất lấp và gặp chiếc nón và đào xuống dần. Thì ra khi nhảy xuống hầm trú ẩn, Hồ Thị Cúc đội nón và không rời chiếc xẻng của mình! Khi gặp hai bàn tay của Cúc thì không ai cầm được nước mắt: Mười ngón tay máu bầm, sưng tím và phình to như ngón chân cái!Thì ra sau khi bị bom vùi, Cúc còn sống và tìm mọi cách cố cào, bới để thoát ra, nhưng không thể…
Nhưng dù sao, Hồ Thị Cúc đã trở về cùng đồng đội. Và sau ba lần chôn cất rồi di chuyển, cuối cùng mười cô gái lại về nằm bên nhau trong nghĩa trang Đồng Lộc, dưới bóng cây bồ kết, trong khói hương ngào ngạt và lòng thương nhớ của đồng bào cả nước. Và mỗi lần có đoàn khách đến nghĩa trang, không chỉ Hồ Thị Cúc mà cả tiểu đội lại được nghe bài thơ gọi hồn “Cúc ơi” trong giọng đọc đầy xúc động của người giới thiệu, giống như 44 năm về trước, chính tác giả Yến Thanh đã đọc để gọi Cúc về.
Vương Trọng