Sau khi Hiệp định về chấm dứt chiến tranh lập lại hòa bình ở Việt Nam được đại diện bốn chính phủ ký kết tại Pa-ri, các thành viên của hai đoàn đại biểu quân sự Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (Đoàn A) và Chính phủ Cách mạng lâm thời cộng hòa miền Nam Việt Nam (Đoàn B) trong Ban Liên hợp quân sự bốn bên (BLHQS) đã lên đường làm nhiệm vụ. Quân ủy Trung ương và Quân ủy miền Nam (B2) đã giao nhiệm vụ cho cơ quan bảo vệ an ninh quân đội khẩn trương cử cán bộ nghiệp vụ vào tham gia trong hai phái đoàn quân sự của ta tại BLHQS. Ngay từ đầu, Cục Bảo vệ an ninh Quân đội (Tổng cục Chính trị) đã dành cho "trận địa mới" này một sự quan tâm đặc biệt bằng việc tăng cường những cán bộ có bản lĩnh chính trị vững vàng, có kinh nghiệm thực tiễn như: Trần Văn Tấn, Nguyễn Ngọc Tiên, Nguyễn Văn Bổ… và nhiều đồng chí có nghiệp vụ chuyên sâu. Phòng bảo vệ Quân giải phóng miền Nam (B2) cử các đồng chí: Vũ Nam Bình, Vương Sinh, Nguyễn Văn Ve… có mặt trong Đoàn B. Nhiều sĩ quan an ninh từ các chiến trường khẩn trương được điều động về làm nhiệm vụ. Số lượng các sĩ quan của ngành bảo vệ an ninh quân đội tham gia BLHQS khoảng gần 100 đồng chí. Bộ Nội vụ (nay là Bộ Công an) đã chi viện cho trận tuyến mới này 140 cán bộ an ninh, trong số đó có nhiều đồng chí là cán bộ lãnh đạo như các anh: Võ Văn Măng, Nguyễn Thanh Đức, Đỗ Hoàng Trừ, Thân Hồng Tâm, Nguyễn Hoàng (Hai An) và Nguyễn Đức Minh (Tư Quyết)… Có những cán bộ an ninh vừa kết thúc nhiệm vụ ở Hội nghị Pa-ri về thẳng hai đoàn ta ở trại Đa-vít.
Đối phương đã chuẩn bị một kế hoạch tình báo hỗn hợp toàn diện nhằm đánh vào hai phái đoàn ta. Kế hoạch này được các cơ quan: Tình báo Mỹ (CIA) ở Sài Gòn, Tổng nha cảnh sát ngụy, Phủ đặc ủy Trung ương tình báo, Cục an ninh quân đội và Phòng 2 - Bộ Tổng tham mưu Quân đội Sài Gòn cùng nhau thống nhất thực hiện. Địch tìm hiểu quê quán, thân nhân, bạn bè đang ở trong vùng chúng kiểm soát để sử dụng vào kế hoạch tình báo được chuẩn bị rất kỹ từ trước. Chúng tìm mọi cách tiếp cận, tấn công nhằm khai thác những sơ hở của một cá nhân nào đó. Trong tay đối phương có những tên phản bội cách mạng như: Trần Văn Đắc (Tám Hà), Nguyễn Văn Nang (Hai Thanh), Lê Xuân Chuyên, Phan Văn Xướng, Phan Mậu, Hà Văn Ý, Đoàn Văn Hạ, Mai Hoa Yến… Một số tên khi còn là cán bộ của ta đã biết khá rõ về một số đồng chí lãnh đạo của hai phái đoàn trong BLHQS. Chúng đã chụp hàng ngàn tấm ảnh cán bộ, chiến sĩ ta khi vừa đặt chân xuống vùng địch kiểm soát với nhiều hướng và ở các cự ly để bọn phản bội nhận mặt từng người…
 |
|
Đồng chí Nguyễn Văn Khả (đứng thứ ba, từ trái sang) và các cán bộ bảo vệ an ninh phái đoàn ta tại trại Đa-vít - Tân Sơn Nhất (ảnh chụp ngày 22-12-1973). Ảnh do tác giả cung cấp
|
Đối tượng đấu tranh của ta là những kẻ hằng ngày đối diện trực tiếp trên bàn hội nghị, trong tiếp xúc bọn chúng đều có bề dày kinh nghiệm chống phá cách mạng, đàn áp nhân dân. Trong số đó có những tên tình báo, gián điệp, mật vụ tham gia BLHQS, đây là các đối tượng phản động nhất, chúng chống phá cách mạng và đàn áp đồng bào yêu nước không hề run tay. Điển hình như Dương Hiếu Nghĩa đã trâng tráo nói: "Trong người tôi chỉ có dòng máu chống cộng!". Phan Văn Tiến - Cục trưởng Cục truyền tin Quân đội Sài Gòn không hề giấu giếm thân phận tay sai bán nước của mình khi cho rằng: "Hậu phương của chúng tôi là Oa-sinh-tơn, chính sách của chúng tôi là chiến tranh, chia cắt đất nước là không thể tránh khỏi…". Tham vọng của Mỹ ngụy khi đề ra mục tiêu đánh phá vào nội bộ hai đoàn ta là tập trung vào việc cài cắm cơ sở, lôi kéo, câu nhử người chạy sang hàng ngũ của chúng hoặc tạo điều kiện cho đến một nước thứ ba. Chúng đã tính đến khả năng lợi dụng ta sơ hở để tổ chức bắt cóc, đặt bẫy rồi tuyên bố công khai là "hồi chính", chạy về với "chính nghĩa quốc gia". Ngay từ đầu chúng đã tìm hiểu phát hiện các mối quan hệ ruột thịt, bạn bè, quê hương… khi có điều kiện, qua thăm dò, khai thác nếu thuận lợi sẽ sử dụng mối quan hệ đó nhằm thực hiện các nhiệm vụ của cơ quan tình báo giao cho. Địch còn sử dụng nhân viên nữ đưa vào trại Đa-vít làm lái xe, nhà thầu tiếp phẩm cho ta. Các nhân viên này được huấn luyện kỹ, thành thạo trong giao tiếp với người khác giới, họ tiếp cận, thăm hỏi thân mật, rủ rê chiến sĩ, cán bộ ta "đi chơi". Lê Thị Na và Nguyễn Thị Tâm là những nhân viên của cơ quan an ninh, tình báo ngụy, khi tiếp cận anh em ta, hai tên này thường hỏi nhiều về quê quán, gia cảnh, sở thích cá nhân và có lần rủ rê: "Anh lên xe chở hàng, lát nữa em đưa ra thăm chợ Bến Thành, ngoài đó có nhiều hàng hóa đẹp…". Chuẩn tướng Phan Hòa Hiệp, trưởng đoàn ngụy, giờ giải lao của một phiên họp cấp trưởng đoàn đã chủ động gặp một đồng chí lãnh đạo Đoàn B và nói rằng mẹ của đồng chí muốn đến trại Đa-vít thăm con (!). Chúng tìm thân nhân một số đồng chí ta làm nhiệm vụ trong hai phái đoàn, bố trí họ vào làm trong trại Đa-vít nhằm tiếp cận để lôi kéo, mua chuộc. Một số tên là bạn học cũ từ thời trước cách mạng nay gặp một đồng chí lãnh đạo Đoàn B của ta đã vồn vã mời về nhà riêng, kể chuyện bạn bè, khoe khoang cuộc sống giàu sang, cho số điện thoại, địa chỉ gia đình, hẹn đưa xe đến đón hoặc hứa chuyển thư, quà giúp đến tay người nhận…
Với nhiều thủ đoạn thâm độc, xảo quyệt nhằm đánh phá vào nội bộ hai đoàn ta nhưng kẻ địch đã vấp phải sự phản ứng quyết liệt và bị thất bại cay đắng. Sau ngày giải phóng, Nguyễn Văn Học, nguyên Đại tá, Trưởng phòng phản tình báo của Cục An ninh quân đội Sài Gòn (một trong những kẻ cầm đầu các hoạt động phá hoại hai đoàn quân sự ta) đã thốt lên: "Chúng tôi đã gặp phải những đối thủ quá rắn, bằng nhiều cách tiếp xúc, câu nhử, lôi kéo, đặt bẫy, gây nghi ngờ… nhưng đều vô hiệu! Các sĩ quan có hạng về chuyên môn của chúng tôi đã phải lắc đầu. Hễ thò ra bài gì là bị các ông đập lại ngay, muốn tranh luận với các vị lại càng khó, không thể đấu nổi".
Ngày đầu tiên vừa đặt chân tới trụ sở trại Đa-vít, cơ quan an ninh đã kịp thời vô hiệu hóa "lũ rệp" (máy ghi âm) do đối phương có "nhã ý" cài đặt từ trước. Tại các căn nhà đối phương giới thiệu "dành cho ông lớn", Mỹ ngụy đã ưu tiên bố trí những chiếc máy thu phát rất tinh vi, đặt vào những vị trí bất ngờ và có thể tạo được hiệu quả cao nếu không bị phát hiện. Một số căn nhà khác, địch phán đoán ta sẽ sử dụng làm nơi họp bàn nên đã tổ chức cài đặt 'rệp"… Sau khi bóc gỡ "lũ rệp", cơ quan an ninh ta lập tức thay đổi cấu trúc các căn hộ và dùng loại trang thiết bị đưa từ Hà Nội vào, tận dụng những nguyên vật liệu tại chỗ nhưng được xử lý kỹ để xây dựng "căn buồng hạnh phúc" (phòng họp an toàn) nhằm "bịt tai, che mắt" những phương tiện thu phát tại chỗ, những thiết bị từ xa chúng đặt bên ngoài hàng rào chõ vào trụ sở của ta. Đối với các loại giấy tờ, tài liệu, nếu buộc phải đem đi làm việc với đối phương hoặc không chuyển qua đường điện tín thì cơ quan an ninh phải tính toán kỹ cách bảo đảm an toàn khi đi trên đường, đề phòng địch đánh cắp, cướp đoạt. Trường hợp xấu nhất, lỡ lọt vào tay chúng cũng không thể dễ dàng khai thác. Các nhân viên văn thư, bảo mật đều tự giác chấp hành nghiêm quy định về công tác bảo vệ bí mật. Toàn bộ giấy than, giấy nháp, giấy đánh máy bị hỏng đều được hủy vì những "nhân viên phục vụ" của họ rất quan tâm đến những sọt rác loại này. Khi đi công tác lẻ, phải nghỉ lại vùng do Mỹ ngụy bố trí nơi ăn nghỉ, nhiều lần chúng tổ chức bọn lưu manh côn đồ hung hãn tấn công vào trụ sở của ta ở khu vực đến làm việc, cướp tài liệu của cán bộ đem theo. Anh em ta đã dũng cảm tránh né, che đỡ, quyết bảo vệ an toàn tài liệu không để lọt vào tay địch. Có nhiều đồng chí bị thương đã phải đưa đi cấp cứu.
Do đối phương có ưu thế về kỹ thuật, nhất là lĩnh vực phá sóng, gây nhiễu… nên đã sử dụng máy phát "toàn tần" với dải tần số từ 3 đến 16 MHz, vì thế chỗ nào ta cũng phát hiện đài địch. Chúng gây nhiễu toàn bộ dải sóng ngắn và cực ngắn, cứ 3 giây phát một tín hiệu công suất rất mạnh. Có lúc, địch còn phát giả sóng của đài ta và yêu cầu làm việc, ta lập tức hỏi đối chứng, do không phải "người nhà" nên đối phương ấp úng không trả lời được, đành bỏ cuộc. Trường hợp ta đang chuyển điện, thấy tiếng "ma níp" lạ đòi ta phải liên lạc với đài này. Nghi ngờ, ta hỏi mật khẩu, tiếng gõ lạ kia im bặt! Để đối phó với những hoạt động phá hoại của địch, ta thường xuyên thay đổi quy ước liên lạc, bố trí lại những quy ước chuẩn bị từ trước… Cơ quan an ninh cấp trên tăng cường cán bộ phản tình báo kỹ thuật vào trại Đa-vít giúp giải quyết những trở ngại về kỹ thuật do địch gây nên. Chính vì vậy, mọi thủ đoạn xảo quyệt có sự trợ giúp đắc lực của khoa học hiện đại nhưng Mỹ-ngụy cũng không thể khuất phục được hoạt động thông tin liên lạc của chúng ta…
Mặt trận ngoại giao quân sự là một hình thức đấu tranh hết sức sáng tạo, độc đáo của cách mạng Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Trên mặt trận ấy, có một trận tuyến thầm lặng của cán bộ, chiến sĩ là thành viên của hai đoàn đại biểu quân sự cách mạng trong BLHQS, họ đã đấu tranh thắng lợi trước những kẻ thù giấu mặt mà Mỹ ngụy đã dày công chuẩn bị kế hoạch để chống phá. Chỉ với một lực lượng nhỏ, ngay tại trung tâm đầu não của kẻ thù, phía ta đã sử dụng hiệu quả diễn đàn công khai ngay trong sào huyệt của địch, buộc Mỹ-ngụy phải thực hiện những điều khoản của Hiệp định Pa-ri.
Nguyễn Văn Khả - Đinh Quốc Kỳ (*)
(*) Nguyên Sĩ quan bảo vệ an ninh đoàn Chính phủ Cách mạng lâm thời cộng hòa miền Nam Việt Nam.