Một thời để nhớ
Nhà có ba người đi B
QĐND - Thứ Năm, 16/06/2011, 11:3 (GMT+7)

Trong căn nhà ở số 10 Phan Bội Châu, thành phố Đà Nẵng, Đại tá Lê Công Thạnh, nguyên Phó chỉ huy trưởng về Chính trị Bộ CHQS tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng (cũ) bồi hồi kể cho chúng tôi nghe về hai người em trai cùng đi B đã hy sinh. Thỉnh thoảng ông dừng câu chuyện để lau giọt lệ chực trào. Gần 50 năm đã trôi qua, vậy mà trong trái tim người anh đã 84 tuổi này, các em của ông vẫn còn trẻ mãi…

Gia đình tôi ở làng Ái Mỹ, xã Điện Thọ, Điện Bàn, Quảng Nam, có 8 anh em thì có 4 trai. Lê Công Đoan, nhỏ hơn tôi 3 tuổi, Lê Công Minh nhỏ hơn 5 tuổi. Cha mẹ tôi thương các con lắm, luôn dạy chúng tôi bằng lời nói nhỏ nhẹ. Nhà nghèo, lao động quần quật nhưng ông bà quyết chí cho con cái ăn học. Tủi hổ thân phận mất nước, ngoại trừ anh trai cả Lê Công Nông ở nhà làm ruộng và chăm sóc cha mẹ, còn ba anh em tôi đều thoát ly, sau đó tham gia quân đội từ rất sớm.

Mỗi đứa một chiến trường, tôi chẳng mấy khi gặp các em. Đến giữa năm 1954, Lê Công Minh trong đội hình Tiểu đoàn 29, Tỉnh đội Quảng Nam đánh trận Bồ Bồ bị thương phải nằm Bệnh viện Mặt trận tại Thăng Bình. Tôi đánh tàn quân Pháp ở Điện Bàn cũng bị thương đưa về đây. Hai anh em mình đầy băng trắng, ôm chầm lấy nhau. Thấy tôi gầy gò, vết thương lở loét, Minh đưa tôi đến nhà một ông thầy lang người Hoa ở chợ Cẩm Khê, trước đó vì yêu quý đã nhận Minh làm con nuôi. Ông thầy lang Thất Sáu ấy đã chăm sóc tôi rất tận tình. Minh tìm đâu ra bộ đồ xi-ta rất mới, tặng tôi, bảo: “Anh Năm đi tập kết, phải ăn mặc cho “oai”. Không ngờ, Minh theo Sư đoàn 305 ra Bắc trước, sau đó là Đoan. Tôi về thăm quê, cha mẹ tôi vừa tiễn hai em tôi đi. Đưa tôi ra tận rặng dừa cuối làng, cha tôi dặn đi dặn lại: “Con ra đó nhớ gần gũi, nhắc nhở hai em. Hai năm nữa cùng rủ nhau về, con hử!”.

Đại tá Lê Công Thạnh (giữa) với Ban Tuyên huấn Bộ CHQS Quảng Nam-Đà Nẵng (cũ). Ảnh do nhân vật cung cấp

Ra Bắc, tôi ở Thanh Hóa, Đoan ở Nghệ An, còn Minh ở Phú Thọ. Mãi đến năm 1956, ba anh em tôi mới gặp nhau. Đó là lúc tôi đang giảng bài cho chiến sĩ thì trực ban báo có em đến thăm. Tan lớp, tôi chạy về, nhìn hai em, mừng đến khóc. Minh và Đoan cùng bật khóc theo. Bà chủ nhà và cô con gái đứng ngẩn người vì ngạc nhiên. Đã là cán bộ đại đội, nhưng tôi chẳng có gì để chiêu đãi các em ngoài bữa cơm khoai lang với rau muống. Chúng tôi cùng nhắc chuyện tát cá đêm trăng với cha, những chiếc bánh xèo nóng hổi của mẹ; hai cô em gái nhỏ nhắn, dễ thương hay quấn quýt các anh. Suốt ba đêm ròng, chuyện nọ tiếp chuyện kia, hình ảnh cha mẹ, làng mạc cứ kéo dài trong nhớ thương vô tận của ba anh em. Ai cũng muốn trở về Nam thật mau, cùng chiến đấu giải phóng quê nhà. Tôi tặng Minh chiếc áo thun Đông Xuân mới phát, cho Đoan cây bút Hồng Hà, nghĩ sẽ lâu lắm mới gặp lại. Vậy mà 3 năm sau, tôi và Đoan làm đám cưới cho Minh với một cô gái Hải Phòng. Nhớ nhất là năm 1960, tại Hà Nội có cuộc duyệt binh của quân đội ta, tôi và Minh đều vinh dự được gặp Bác Hồ, điều mà cha mẹ tôi vẫn ao ước bấy lâu.

Kỷ niệm cuối cùng có cả ba anh em đó là tại trường huấn luyện ở Xuân Mai, Hòa Bình. Cả ba đều tập trung tại đây một tháng để bồi dưỡng đi B. Biết ngày mai Minh vào Nam, tối đó, ba anh em chúng tôi bí mật kéo ra đám cỏ, mua một chục hột vịt lộn làm buổi tiệc tiễn đưa. Những kỷ niệm êm ấm về mái nhà xưa lại thầm thì gợi nhắc khiến ai nấy sụt sùi. Có lẽ chưa bao giờ tôi thấy thương các em mình đến thế. Tôi nhớ đến lời dặn của cha. “Hai năm nữa (tổng tuyển cử) nhớ đưa các em về”, bất chợt linh cảm chẳng lành khi nhìn cơn dông đang ầm ào phía cuối trời.

Đoan vào chiến trường Bắc Tây Nguyên với cương vị Đại đội phó Đại đội 3, Tiểu đoàn 200 Pháo binh Quân khu 5. Trong trận đánh tiêu diệt đồn Đắk Tan, huyện 4, tỉnh Kon Tum năm 1963, Đoan được bố trí làm mũi trưởng, xung phong phá cửa mở và bị thương rồi hy sinh. Lời hô lẫm liệt của Đoan “Đảng viên tiến lên, toàn đơn vị tiến lên” hôm ấy được đồng đội nhắc mãi. 6 tháng sau, tôi vào mặt trận Kon Tum mới biết tin. Đơn vị đang đi về phía trước, tôi không có dịp thăm mộ em mình. Lại nhớ lá thư Đoan gửi ra Bắc: “Chỗ em cá nhiều vô kể, anh vào thì nhớ mang một ít lưỡi câu, hai anh em mình sẽ đi bắt cá nướng ăn như ngày nào…” mà không kìm được nước mắt. Đại đội trưởng của Đoan là Lữ Xa nhớ rõ nơi chôn cất nên sau ngày giải phóng đã giúp gia đình đưa hài cốt Đoan về Tam Kỳ.

Tôi gặp Lê Công Minh khi chiến đấu ở chiến trường Quảng Nam và báo tin vợ Minh ở ngoài Bắc đã sinh con trai. Cậu ta nghe phấn khởi lắm. Minh đã kịp về thăm quê, thông báo cho tôi biết cha mẹ cùng vợ và con gái tôi bị dồn vào ấp chiến lược, bọn chúng o ép đủ bề. Minh cũng kể chuyện em út Lý vừa băng bộ đến đơn vị thăm Minh. Cô em xinh đẹp của chúng tôi trở thành mục tiêu của hàng chục anh bộ đội xin làm em rể. Minh kể và cười khoái chí. Có thời điểm Tiểu đoàn 70 nhập vào Sư đoàn 2 mà tôi là Trưởng ban cán bộ đã muốn đưa em lên Ban Tác chiến để đỡ ác liệt hơn. Đoan hy sinh rồi, tôi không muốn mất thêm đứa em trai nữa. Nhưng đó chỉ là ý định bởi Minh đang là Đại đội trưởng xuất sắc của Đại đội 2. Hơn nữa, Minh giỏi chữ nghĩa, từng là cộng tác viên cho Báo Quân đội nhân dân với các bài báo về chiến trường nóng hổi, lại có tài thổi sáo rất hay, cán bộ, chiến sĩ ai cũng yêu mến. Tôi làm sao tách Minh ra khỏi đồng đội em.

Ngày 27-12-1965, tôi nghe tin sét đánh: Sau trận Đồng Dương, Minh cùng Ban chỉ huy Đại đội 2 bị trúng bom B52 của Mỹ. Trên đường hành quân ra mặt trận, lòng tôi đau quặn thắt. Một nỗi buồn tràn ngập trong tôi. Càng tiếc thương em, càng căm thù giặc Mỹ. Phút dừng chân bên bờ suối, tôi lấy tấm ảnh hai anh em chụp chung ở Bắc ra nhìn, đưa gần rồi lại để xa. Nụ cười rộng hết cỡ của em vẫn còn đây, mái tóc húi cua rất ngộ vẫn còn đây, vậy mà em đã ra đi. Tôi lại nắm chặt chiếc ra-đi-ô bé xíu em tặng “để anh Năm nghe tình hình”, quyết giữ các kỷ vật của em luôn bên mình. Xong chiến dịch, tôi mới đến thăm Minh, bần thần đặt thêm hai hòn đá lên mộ em làm dấu... Sau này tôi được biết, Minh may mắn được người lính dân vệ tên là Quyết vì mến phục em đã bảo vệ mộ chu đáo, hài cốt được quy tập vào nghĩa trang xã Tiên Sơn, huyện Tiên Phước.

Ngày giải phóng Đà Nẵng, bận bịu với cương vị Chủ tịch quân quản quận 1, mãi đến 5 ngày sau tôi mới đánh xe về thăm cha mẹ lúc này đang ở Tam Kỳ với anh trai. Mọi người vô cùng mừng rỡ. Thả tay ra khỏi bờ vai tôi, cha hỏi: “Hai em của con đâu?”. Ông bà biết Đoan, Minh đã hy sinh nhưng không tin là sự thật, nay tôi khẳng định, cả hai òa khóc. Có nền tảng từ truyền thống gia đình, tất cả con cháu của Lê Công tộc đều sống lương thiện và có nhiều đóng góp cho quê hương, làm nguồn vui để cha mẹ tôi thượng thọ. Những ngày giỗ chạp, gặp mặt đại gia đình, tôi lại kể cho các cháu nghe chuyện nhà mình có ba người đi B và hai người đã không trở về...

Hồng Vân

Họ và tên:
Email:
Tiêu đề:
Mã xác nhận:

Nội dung
Gõ tiếng việt :    Off   Telex   VNI   VIQR
Các tin khác