“Lưỡi gươm thần” cuối trời Nam Trung Bộ (kỳ 8)
QĐND - Thứ sáu, 06/08/2010 | 0:58 GMT+7

Kỳ 8:  Sự khác biệt của "đặc công Khu 6”

Thượng tướng Nguyễn Trọng Xuyên, nguyên Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, từng là Tư lệnh Quân khu 6  và đã có tới 16 năm gắn bó với chiến trường Khu 6. Ông từng giao nhiệm vụ nhiều trận đánh và có hàng trăm đêm không ngủ dõi theo mỗi tiếng nổ của 200c. Mùa hè năm 2009, ông đã trực tiếp viết thư cho Đại tướng Phùng Quang Thanh, Ủy viên Bộ Chính trị, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng đề nghị xem xét việc phong tặng danh hiệu Anh hùng LLVT nhân dân cho tiểu đoàn…

Những kỷ lục về hiệu suất chiến đấu

PV: Thưa Thượng tướng, sau khi ông gửi thư cho Đại tướng Phùng Quang Thanh, kết quả ra sao?

Thượng tướng Nguyễn Trọng Xuyên.

Thượng tướng Nguyễn Trọng Xuyên: Ngày 2-6-2009, tôi gửi thư cho anh Thanh thì đến ngày 11-6, anh Thanh có ý kiến chỉ đạo giao cho Tổng cục Chính trị xem xét, đề xuất việc phong tặng danh hiệu Anh hùng cho Tiểu đoàn 200c. Sau đó, Tổng cục Chính trị đã làm việc với Ban liên lạc tiểu đoàn, giao cho Bộ CHQS tỉnh Lâm Đồng thực hiện việc này. Tháng 2-2010, Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết đã ký quyết định phong tặng danh hiệu Anh hùng LLVT nhân dân cho Tiểu đoàn đặc công 200c. Tháng 8-2010 tới, tại Đà Lạt sẽ diễn ra lễ trao tặng danh hiệu cao quý cho tiểu đoàn huyền thoại này.

PV: Thượng tướng đánh giá như thế nào về “chất anh hùng” của Tiểu đoàn 200c?

Thượng tướng Nguyễn Trọng Xuyên: Rất Anh hùng! Tiểu đoàn 200c trong chiến đấu thường xuyên là đơn vị chủ công, đánh ở hướng chủ yếu, có khi đánh độc lập, có khi phối hợp với các đơn vị khác nhưng luôn đánh những trận then chốt quyết định trong các chiến dịch của Quân khu 6 hoặc độc lập tác chiến đánh vào những căn cứ chiến lược và hậu cứ của Mỹ - ngụy. Đặc điểm nổi bật nhất của 200c là các lần giao nhiệm vụ thường “đánh đâu thắng đấy”. Từ năm 1968-1975, 200c đã đánh hàng trăm trận, diệt hàng nghìn tên Mỹ - ngụy, gây cho địch tổn thất lớn, hoang mang lo sợ cách đánh của đặc công. Hiệu suất chiến đấu của đơn vị rất cao, tỷ lệ thương vong rất ít. Đơn vị còn vừa chiến đấu vừa phá ấp chiến lược, vừa xây dựng cơ sở chính trị và cơ sở vũ trang trên địa bàn Quân khu 6. Sau giải phóng lại tiếp tục làm nhiệm vụ truy quét FULRO ở Lâm Đồng… Những năm chiến tranh, nhắc đến 200c, quân và dân Khu 6 ai cũng mến phục, tin cậy, thương yêu đùm bọc còn kẻ thù thì kinh hoàng, sợ hãi.

PV: Trong lịch sử quân đội ta, đã từng có những trận điển hình về hiệu suất như “một thắng 20”? Vậy ở đây, đâu là tiêu chí để làm nổi bật hiệu suất chiến đấu cao của 200c, thưa Thượng tướng?

Thượng tướng Nguyễn Trọng Xuyên: “Một thắng hai mươi” đã là một thành tích rất tốt, nhưng 200c từng lập rất nhiều thành tích cao hơn, mang tính kỷ lục. Như trận Sông Mao (Bình Thuận), hiệu suất đã đạt tới mức “một thắng…100”, các trận Pát Tơ (Di Linh – Lâm Đồng), hiệu suất đạt tới mức “một thắng bảy mươi”.Với cách đánh bộ binh, ta thường xác định “ba đánh một”, thuận lợi lắm thì “một đánh một” nhưng với đặc công, như 200c ta có thể một đánh mười, một đánh 50, thậm chí 100. Rõ ràng là 200c đã tiếp tục viết nên những kỳ tích của nghệ thuật quân sự Việt Nam “lấy ít địch nhiều, lấy nhỏ thắng lớn”.

Đếm từng viên đạn trước giờ ra trận

PV: Có phải 200c đã góp phần làm nên sự khác biệt của “đặc công Khu 6” so với nhiều đơn vị đặc công khác?

Thượng tướng Nguyễn Trọng Xuyên: Đúng vậy! Có hiểu được đặc điểm chiến trường Khu 6 mới hiểu được giá trị to lớn của việc giết được một tên địch, thắng được một trận đánh khác biệt thế nào? Khu 6 là chiến trường địch hậu, nghĩa là địch ở xung quanh mình, coi như ta bị “bao vây”. Mà địch rất đông, tương quan “ta một, địch mười”. Khu 6 ở cuối con đường mòn tiếp tế nên chi viện từ ngoài Bắc vào được hết sức khó khăn. Gọi là “quân khu” nhưng không có sư đoàn, hỏa lực mạnh. Cấp trung đoàn sau mới có, ban đầu chỉ có 2 tiểu đoàn bộ binh, 1 tiểu đoàn trợ chiến, sau mới thêm Tiểu đoàn đặc công 200c. Một đơn vị mới bổ sung như 200c mà đã nhanh chóng bám đất bám dân, đánh đâu thắng đấy là rất đáng quý, là tiêu biểu cho tư tưởng “bám thắt lưng địch mà đánh”!

PV: Có phải 200c và khu 6 cũng rơi vào thế như ở Quân khu 9 mà Đại tướng Phạm Văn Trà kể rằng: Gần địch đến nỗi đêm đêm nghe chúng hát đờn ca tài tử?

Thượng tướng Nguyễn Trọng Xuyên:  Không phải vậy! Khu 6 cũng gần địch như Khu 9, nhưng Khu 9 còn có vùng duyên hải ven biển và nhiều căn cứ của ta chứ Khu 6 chỉ có hai căn cứ nhỏ, vừa sống sát nách địch lại vừa thiếu thốn đủ bề, vừa ít được sự “đầu tư” của miền Bắc, phải tự lực tự cường, vừa cầm súng, vừa cầm cuốc làm lấy cái ăn mà đánh giặc. Sau này, các nhà sử học tổng kết đã nhận định: Khu 6 có nhiều khó khăn về sức người, sức của do chỉ đặt vấn đề ở đây không phải là chiến trường trọng điểm nên suốt cuộc kháng chiến chống Mỹ, sự lãnh đạo, chỉ đạo và chi viện của cấp trên có bị hạn chế, không đánh giá hết tầm quan trọng của Khu 6. Khi Trung ương chi viện, chúng tôi chỉ xin nhận vũ khí và đạn dược còn lương thực thì không nhận.

PV: Vì sao lạ vậy thưa Thượng tướng? Nhà văn Hà Đình Cẩn có lần viết, ở Khu 6, bắn một viên đạn cối cũng phải có chữ ký của Tư lệnh Quân khu, có điều đó không ạ?

Thượng tướng Nguyễn Trọng Xuyên:  Đơn giản là làm gì còn người mà đi vận tải lương thực. Quân số phải ưu tiên cho các đơn vị chiến đấu. Lực lượng vận tải ít, vũ khí sử dụng phải cực kỳ tiết kiệm. Mỗi trận đánh bắn loại gì, bao nhiêu viên phải có quy định hết. Tôi kể đồng chí nghe một câu chuyện như thế này: Có một cán bộ trung đội dẫn trung đội đi phục kích, vợ anh ta là dân quân cũng đi cùng. Anh em đánh tốt, bọn địch chạy tán loạn, ta thu được nhiều vũ khí. Cô vợ trẻ lần đầu xung trận hoảng hốt bắn một viên vào bọn địch bỏ chạy nhưng không trúng. Sau trận đánh, về đơn vị, anh chỉ huy cho kiểm tra đạn dược, phát hiện ra thiếu một viên. Hỏi ai bắn. Cô vợ nhận: “Em bắn!”. Anh nổi xung, định… kỷ luật vợ vì vô kỷ luật, bắn linh tinh, tốn đạn. Đấy! Nói như thế để thấy rằng với Khu 6, đã thiếu người lại còn thiếu đạn. 200c ra trận chỉ với rất ít đạn dược, chỉ có thủ pháo, lựu đạn là chính mà chiến thắng lẫy lừng, không dễ gì đơn vị nào cũng làm được như thế.

Những bài học trên đỉnh chiến công

PV: Chiến công, thành tích lẫy lừng như thế, vì sao 200c đến nay mới được phong tặng danh hiệu Anh hùng LLVT nhân dân, thưa Thượng tướng?

Thượng tướng Nguyễn Trọng Xuyên:  Quân khu 6 đã có 4 đơn vị được phong Anh hùng LLVT nhân dân từ rất sớm. Còn Tiểu đoàn 200c, lẽ ra phải được phong Anh hùng ngay trong chiến tranh hoặc sau hòa bình nhưng vì một “sự cố”. Năm 1974, Tiểu đoàn trưởng Huỳnh Văn Bu (từ tỉnh đội Đà Lạt được bổ sung về tiểu đoàn năm 1971) đào ngũ, chiêu hồi. Lý do chiêu hồi của Bu đơn giản là ở gần đơn vị có cô Yến rất xinh đẹp nên Bu rất mê. Năm 1974, Yến sợ cảnh chiến tranh về Sài Gòn nên Bu bỏ tiểu đoàn, đi theo người đẹp. Trước đó anh ta cũng có nhiều thành tích, chiến đấu rất tốt nhưng vì “dại gái” mà chiêu hồi khi chỉ còn 9 tháng sau thì miền Nam hoàn toàn giải phóng. Sau khi về Sài Gòn, Bu có khai báo nhưng không gây thiệt hại gì lớn cho ta. Sau hòa bình, ta có đưa đi cải tạo, hiện gia đình Bu vẫn sống ở quận Bình Thạnh. Câu chuyện Huỳnh Bu cũng là bài học về quản lý, rèn luyện cán bộ. Cũng vì lý do này mà về sau, các cấp đã không đề nghị phong tặng danh hiệu Anh hùng LLVT nhân dân cho Tiểu đoàn 200c.

PV: Vậy vì sao, Thượng tướng vẫn đề nghị Bộ trưởng Bộ Quốc phòng và cơ quan các cấp xét phong tặng danh hiệu Anh hùng cho 200c?

Thượng tướng Nguyễn Trọng Xuyên:  Sau khi tên Bu đảo ngũ, 200c vẫn chiến đấu rất tốt. Đặc biệt trong chiến dịch mùa khô 1974 đến 30-4-1975 vẫn luôn là đơn vị chủ công của Quân khu 6, đánh chiếm điểm cao Lồ Ồ, tiến công giải phóng chi khu Tánh Linh, chi khu Hoài Đức, góp phần giải phóng đường 20 Lâm Đồng, tạo địa bàn cho bộ đội chủ lực vào tập kết. Tiếp đó, đơn vị đánh chiếm chi khu Ma Lâm, giải phóng huyện Hàm Thuận, chiếm đường 18, làm chủ đường số 1, tiếp tục cùng chủ lực tiến công giải phóng thị xã Phan Thiết, thị xã La Gi, giải phóng hoàn toàn tỉnh Bình Thuận và tỉnh Bình Tuy (cũ), tạo bàn đạp cho bộ đội chủ lực vào tập kết để tiến công giải phóng Sài Gòn. Gần đây, có chủ trương của Bộ Quốc phòng cho phép xét thành tích đặc biệt xuất sắc của các đơn vị tuy đã giải thể vẫn có thể tuyên dương, tôi ủng hộ nguyện vọng của anh em 200c. Không thể vì sai lầm của một cá nhân Huỳnh Bu mà phủ nhận toàn bộ thành tích, công lao, xương máu của hàng trăm người lính đặc công, nhiều người hy sinh đến nay vẫn chưa tìm thấy mộ.

PV: Thượng tướng nghĩ sao khi vẫn còn rất nhiều cựu chiến sĩ đặc công  200c chiến đấu dũng cảm, bị thương, bị chất độc hóa học nhưng đến nay vẫn chưa được nhận một chế độ chính sách gì?

Thượng tướng Nguyễn Trọng Xuyên:  Chuyện đó có thật, không chỉ với 200c đâu mà với nhiều đơn vị khác. Ngày ấy ở Khu 6, tôi cũng hai lần dính chất độc hóa học. Có lần gặp địch rải chất độc, lấy áo mưa trùm lên người mà vẫn ướt hết cả đùi. Lần khác địch rải cả nương sắn, vẫn phải chặt cành, đào củ ăn. Lúc chiến đấu thương tật liên miên, anh em đặc công giữa rừng sâu, đâu phải lúc nào cũng có bệnh viện, chứng thương, mà có chứng thương, đánh nhau cơ động thế mấy ai giữ được. Nay hòa bình mà cứ đòi hỏi giấy tờ đầy đủ thì rất khó. Tôi nghĩ khó đến đâu thì cũng nên cố gắng có cơ chế giải quyết hết cho những anh em chính đáng. Với anh em, không phải là chế độ tiền nhiều hay ít mà cái chính là họ mong muốn được Đảng, Nhà nước ghi nhận họ là thương binh, để họ tự hào với gia đình, con cháu…

PV: Từ thực tiễn chiến đấu đầy sinh động và hiệu quả của 200c trên chiến trường Khu 6, Thượng tướng có suy nghĩ, rút ra bài học và khuyến nghị gì cho việc xây dựng lực lượng vũ trang hiện nay?

Thượng tướng Nguyễn Trọng Xuyên:  Đặc công là một đặc thù của nghệ thuật quân sự Việt Nam. Tư tưởng tiến công là tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh, lấy ít địch nhiều, lấy nhỏ thắng lớn, đánh cận chiến và yếu tố con người là quyết định. Từ thực tiễn Tiểu đoàn 200c cho thấy, chúng ta cần luôn coi trọng, trân trọng lực lượng đặc công, chăm lo xây dựng và phát triển nó, không chỉ xây dựng Binh chủng Đặc công mà phải xây dựng đặc công trong 3 thứ quân: Bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương, dân quân tự vệ. Sâu hơn nữa, phải huấn luyện đặc công cho cả nhân dân, để khi có chiến tranh thì người dân cũng biết đánh đặc công. Đây là một tài tình của Việt Nam. Thời chiến tranh, nhiều nước đã tới học ta nhưng về vẫn không làm được. Việc bộ binh ta tiến lên chính quy hiện đại là cần thiết, nhưng không vì thế mà xao nhãng đặc công. Đặc công của ta là tinh nhuệ, là đặc biệt, do Bác Hồ chỉ đạo tổ chức và đánh theo tư tưởng Hồ Chí Minh. Xây dựng đúng hướng như thế thì luôn rất cần, rất hiệu quả, rất chiến lược…

PV: Xin cảm ơn Thượng tướng!

Ký sự của NGUYỄN VĂN MINH

“Lưỡi gươm thần” cuối trời Nam Trung Bộ (kỳ 7)

“Lưỡi gươm thần” cuối trời Nam Trung Bộ (kỳ 6)

“Lưỡi gươm thần” cuối trời Nam Trung Bộ (kỳ 5)

“Lưỡi gươm thần” cuối trời Nam Trung Bộ (kỳ 4)

“Lưỡi gươm thần” cuối trời Nam Trung Bộ (kỳ 3)

“Lưỡi gươm thần” cuối trời Nam Trung Bộ (kỳ 2)

“Lưỡi gươm thần” cuối trời Nam Trung Bộ (kỳ 1)

Gõ tiếng việt: Off Telex