QĐND - Năm lớp bốn, tôi ngồi cạnh Tuấn. Tuy học cùng, nhưng nó hơn chúng tôi tới ba tuổi liền, học dốt kinh khủng. Đã dốt lại còn “bất cần” nữa. Nó đi học mà không bao giờ mang theo lọ mực. Mỗi lần cần mực viết, nó lần lượt chấm hết lọ mực này đến lọ mực khác của năm đứa cùng bàn. Thường thì nó luôn chấm rất nhanh, rất chuẩn. Chấm xong rồi nó mới gọn lỏn: “Tao xin ngòi mực”.
Tất cả chúng tôi đều ghét cái thói “cướp trên giàn mướp” đó. Nhưng nó lại luôn có một thứ mà chúng tôi mê mẩn: Cỏ mật.
Tôi và nó ở gần nhà nhau. Nó mười ba, mười bốn tuổi mà vẫn còn bú mẹ. Mỗi buổi sáng, khi chúng tôi gọi nó đi học, nó đều gào lên: “Chờ tao bú tí đã”.
Chúng tôi đứa nào cũng đeo cặp sách, đầu trần, chân đất, vừa đi vừa chạy đến trường. Con đường đến trường rất dài, qua một xóm nhỏ, một cánh đồng có hai hàng cây phi lao không biết được trồng từ thuở nào, đã cỗi già ghê lắm, rồi mới đến trường làng. Trường làng nằm bên một dòng sông trong veo, đứng trên bờ có thể nhìn rõ từng làn dong tóc tiên uốn mềm trong nước biếc. Giữa sân trường có ba cây xà cừ cổ thụ. Vào giờ ra chơi, cô giáo chủ nhiệm thường ngồi dưới một gốc cây, bọn con gái xúm quanh cô, cô kể chuyện và bắt chấy cho chúng.
Nhiều năm sau này, khi tôi trở lại thăm trường, thấy hai cây xà cừ ngày xưa vẫn còn đó, chỉ một cây không còn. Cậu bạn tôi, nhà gần trường bảo rằng một cây không hiểu sao bị chết khô. Rồi cậu ta lại bảo: Có lẽ ba cây ấy đã đem lòng yêu nhau. Một mối tình tay ba kéo dài hàng chục năm đằng đẵng. Cuối cùng, cái cây si tình tội nghiệp đó đã... tự tử.
Trường làng rất nghèo, tuy có một dãy nhà xây, nhưng đến lúc chúng tôi vào lớp một thì nó đã cũ lắm rồi, tất cả các cửa đều không có cánh cửa, vì thế, bọn học sinh nghịch như quỷ, thường lợi dụng cửa sổ để lặng lẽ xuất hiện, lại lặng lẽ biến mất. Chỗ chúng nó trèo ra trèo vào, gạch vỡ đã nhẵn thín, trên mặt tường chi chít vết chân bẩn. Thế vẫn còn hạnh phúc lắm, và chỉ có học sinh lớp sáu mới có vinh dự được học trong dãy lớp đó mà thôi. Chúng tôi, những học sinh lớp bốn thì “hoàn cảnh tội nghiệp” hơn nhiều. Lớp chúng tôi chỉ có ba bức tường. Đã thế, tường còn thủng lỗ chỗ, ngồi trong lớp có thể ghé mắt ngắm bà con đi làm lúa bên bờ sông. “Nội thất” cũng rất nghèo nàn. Thường thì luôn trong tình trạng hôm có ghế thì không có bàn, hôm có bàn thì không có ghế. Vì lớp học luôn trống tuyềnh trống toàng, nên người dân trong làng thường đến trường khênh bàn ghế về tiếp khách hoặc... đun.
Dẫu vậy, chúng tôi vẫn rất hạnh phúc. Ngày nào cũng mong đến trường. Nguyên trường tôi có hai cơ sở. Mỗi cơ sở ở hai thôn khác nhau. Trường chính có ba cây xà cừ trong sân. Trường phụ vốn là một cái nhà kho, góc sân có một cây táo lớn, mùa táo chín, rụng lộp bộp, thơm lừng.
Đến trường, ít nhất có hai điều mà chúng tôi chờ đợi. Điều thứ nhất là ở ngôi trường cây táo, nơi có những chuyến xe hạnh phúc: Những chuyến xe của bố Hải.
Hải là một bạn gái gầy gò, yếu đuối, nhưng lại có ông bố vô cùng “oách”. Bố Hải là một bác lái xe cao lớn. Ngày nào bác cũng đánh chiếc xe ca màu vàng đưa đón công nhân (của một đơn vị gần trường) đi làm. Mỗi khi trả xong khách, bác lại cho xe chạy vào sân kho. Ở đó có những đứa trẻ đã tan học và đang đợi sẵn. Bác hô to “Chúng mày lên đây nào!”. Thế là bầy “hành khách nhỏ” nhí nhố như được ban một niềm vui vĩ đại, ríu rít, tranh nhau lên xe. Bác tài cho xe chạy đúng một vòng quanh sân rồi dừng lại trong sự tiếc nuối, thèm thuồng của bọn nhóc. Và chúng tôi lại háo hức đợi chờ chuyến xe của ngày hôm sau.
Bây giờ, dĩ nhiên… bác lái xe năm xưa đã già yếu, sắp ra người thiên cổ. Chiếc xe năm xưa giờ đang ở trong một cái nhà kho lạnh lẽo, hay đã được tân trang, mông má để trở thành một cái xe khác, khoác trên mình những chiếc áo khác? Và những hành khách nhỏ ngày xưa nay đã cho ra đời những “hành khách nhỏ” khác, đã hơn một lần đi trên những chuyến xe khác trong cuộc đời.
Điều thứ hai là cỏ mật. Ngày nào đến lớp, Tuấn cũng thủ trong túi một nắm cỏ mật. Thú thật, đến bây giờ tôi vẫn không sao biết thứ cỏ kỳ diệu ấy thực chất là cỏ gì. Nếu cho một cọng cỏ tươi vào miệng nhấm, một vị ngọt dần tỏa lan. Điều tuyệt vời hơn cả là khi được phơi khô, nó tỏa một mùi hương thơm ngát...
Không ai biết tìm cỏ mật ở đâu, trừ Tuấn, cứ như loài cỏ thơm kỳ lạ đó chỉ sinh ra để dành riêng cho Tuấn vậy. Có lần cậu ta bảo đã lấy chúng ở... bãi tha ma. Nhưng dù cậu ta có lấy ở bãi tha ma thật, thì chúng tôi vẫn mê mẩn chúng, luôn muốn có được chúng mỗi ngày.
Tôi chuyển trường ngay sau mùa hè năm lớp bốn và tuy ở gần nhà, không hiểu sao tôi và Tuấn không chơi cùng nhau nữa. Bây giờ Tuấn đã lập gia đình, chuyển đến một nơi xa.
Tôi ít có dịp về qua trường làng cũ. Nhưng ngôi trường nghèo khổ ngày xưa, tình bạn ngắn ngủi ngày xưa, tôi vẫn nhớ, cả những chuyến xe hạnh phúc, cả hương cỏ mật ngát thơm trong lớp học tuyềnh toàng.
Tản văn của PHẠM THANH THÚY