Văn học
Bút báo, bút văn
QĐND - Thứ Tư, 20/06/2012, 22:4 (GMT+7)

QĐND - Đúng ngày 30-4 vừa rồi, tôi được biết tin chính thức ba nhà văn trưởng thành từ Báo Quân đội nhân dân Cao Tiến Lê, Anh Ngọc, Hà Đình Cẩn cùng được nhận Giải thưởng Nhà nước. Hôm ấy, theo hẹn từ nhiều năm nay, các phóng viên của báo đi chiến trường miền Nam, tham gia Chiến dịch Hồ Chí Minh năm 1975 hiện ở Hà Nội lại tụ họp nhau hàn huyên, ôn nhớ. May mắn và hạnh phúc, tất cả còn khỏe. Đều đã về hưu nhưng ai cũng vẫn cầm bút, miệt mài.

Tôi vẫn giữ bức ảnh đoàn phóng viên Báo Quân đội nhân dân đầu tiên vào Nam năm ấy chụp cùng đồng chí Nguyễn Thị Định, Phó tư lệnh Lực lượng vũ trang giải phóng miền Nam Việt Nam khi đoàn gặp bà trên đường Trường Sơn trước ngày Tết Ất Mão. Gương mặt anh nào cũng tươi tắn, háo hức.

Lúc ấy, cả 9 anh em trong đoàn đều là những cây bút, tay máy sung sức của báo, đều là những phóng viên từng trải chiến trận, có anh đã là thương binh trước khi về báo. Nhiều người trong số họ đã viết báo, viết văn, làm thơ từ khi ở đơn vị như: Cao Tiến Lê, Trần Hữu Tòng, Tô Phương, Anh Ngọc, Hà Đình Cẩn. Sau chiến tranh, các anh đều sớm trở thành hội viên Hội Nhà văn Việt Nam.

Cầm súng và cầm bút, đâu phải vì cuộc sống chiến trận lãng mạn, nên thơ, dẫu có nhiều lúc như vậy, điều cốt yếu là trước vận mệnh dân tộc, trước sự sống và cái chết của chính mình, mọi người lính bình dị đều ý thức được phận sự của mình, mỗi bước hành quân, mỗi trận đánh càng làm cho họ giàu có thêm tình yêu, khát vọng sống, chiến đấu và viết.

Được điều về làm báo là được viết, viết như một nghiệp đời. Nhưng báo là báo, văn là văn, tờ báo không thể dung nạp những loại bài viết, những cây bút dở báo, dở văn. Viết báo hay viết văn đều có những đòi hỏi riêng về nghề, lắm khi nghiệt ngã, tay viết báo làm hại tay viết văn và ngược lại. May mắn thay, ở Báo Quân đội nhân dân đã có nhiều cây bút vượt lên được những đòi hỏi ấy. Họ viết văn ra văn, báo ra báo, nhiều khi là những bài báo có văn rất nhuyễn bởi sự đam mê của ngòi bút, sự tinh tế, giàu hình ảnh, ngôn từ, cách dẫn dụ sinh động. Thời kháng chiến chống Pháp, thiếu thốn, gian khổ là thế mà nhiều cây bút của Báo Quân đội nhân dân đã trở thành những nhà văn nổi tiếng như: Trần Đăng, Thâm Tâm, Hoàng Lộc, Vũ Cao, Vũ Tú Nam, Trần Cư…

7 trong 9 người của đoàn phóng viên Báo Quân đội nhân dân gặp gỡ đồng chí Nguyễn Thị Định giữa Trường Sơn. Từ trái sang: Cao Tiến Lê, Trần Hữu Tòng, Nguyễn Thị Định, Hà Đình Cẩn, Vũ Đạt, Tô Phương, Tô Vân, Anh Ngọc.

Cao Tiến Lê, Anh Ngọc, Hà Đình Cẩn nằm trong số những cây bút nối tiếp mạch báo, mạch văn của lớp người đi trước.

Ngày tôi mới về báo, khi đọc truyện ngắn hay tuyệt "Mùi thơm dây cháy chậm" của Cao Tiến Lê đăng trên Tạp chí Văn nghệ Quân đội, tôi nhìn anh thấy cao, xa lắm. Thế mà chính anh đã từng căn dặn, nhắc nhở tôi: Viết báo là đi thẳng vào sự kiện, câu chuyện, không vòng vo, không được sa vào tả tình, tả cảnh… Năm 1974, từ chiến trường Khu 5 ra, anh viết nhiều bài, trong đó có phóng sự "Gặp bạn viết trên chiến hào Thượng Đức". Đó là bài báo sống động, đậm đặc khí chất chiến binh. Mùa xuân 1975, những bài ký của anh về cuộc tiến công của quân dân ta từ phía nam vào Sài Gòn, về đất và người xứ bưng biền Đồng Tháp Mười đều là những bài được mọi người hào hứng đọc. Sau này, việc viết báo chiếm mất của anh quá nhiều thời gian nhưng anh vẫn ấp ủ viết văn. Rồi anh chuyển ngành qua làm cán bộ quản lý của Nhà xuất bản Thanh niên, tiếp đó là ở cơ quan Hội Nhà văn Việt Nam, bận bịu cả đấy nhưng anh vẫn viết, viết nhiều. Giải thưởng Nhà nước anh được nhận đợt này là trao cho những tập truyện ngắn đặc sắc "Ở trần", "Cây sau sau lá đỏ" và tiểu thuyết "Trung tướng giữa đời thường". Đó là phần tinh hoa trong cuộc đời văn chương của anh-thứ tinh hoa nhân văn chưng cất từ đời lính.

Do có "khiếu" văn chương, văn nghệ, các anh Lê, Ngọc, Cẩn đều được phân công viết, biên tập cho phần văn hóa văn nghệ trên Báo Quân đội nhân dân. Sau này, khi bộ phận văn hóa văn nghệ tách khỏi phòng Chính trị thành Phòng biên tập Văn hóa, văn nghệ, các anh Ngọc, Cẩn được điều về phòng mới. Cây bút Hà Đình Cẩn vừa về báo đã dường như lập tức nổi đình đám. Ngòi bút Hà Đình Cẩn cứ thau tháu, đầy nhịp điệu trong các bài phóng sự, ký sự. Chỉ những chuyện bộ đội huấn luyện, rèn luyện kỷ luật, đắp đê, ứng cứu lũ lụt… ngòi bút của anh vẫn cứ cuốn hút, kéo người đọc vào cuộc. Anh là người ham đi, ham viết. Năm 1975, vào khu 6, khi nghe ngóng tình hình chiến trường chuyển biến quá nhanh, Hà Đình Cẩn cùng Anh Ngọc liền phóng về Sài Gòn. Chỉ ít ngày sau, Hà Đình Cẩn đã có mặt tận Cà Mau. Các bài viết của anh dịp này trải rộng khắp các vùng đất miền Tây Nam Bộ. Truyện ký của anh viết từ Cà Mau về anh hùng Bông Văn Dĩa là bài báo đầu tiên viết về chiến công thầm lặng của Đoàn tàu không số trên Đường Hồ Chí Minh trên biển. Rồi sau này, Tây Nguyên, Côn Đảo, Trường Sa, chiến trường Cam-pu-chia, vùng biên giới phía Bắc… dấu chân Hà Đình Cẩn đi đến đâu là chúng tôi cùng bạn đọc lại được nắc nỏm đọc và bình phẩm đủ điều về các bài viết của anh.

Hà Đình Cẩn có biệt tài nhanh nhạy, tháo vát. Chỉ thoáng nghe ai đó nói chuyện gì đấy là lạ, hay hay là anh đã nhập tâm, rồi lúc nào đó, chi tiết ấy, câu chuyện ấy đã tái hiện rất ngọt trong bài viết của anh. Anh cũng là người đa năng linh hoạt. Khi về làm phòng biên tập, có việc gì khẩn cấp, khúc mắc bài vở, chỉ loáng cái anh đã nảy ra ý mới và bắt tay cùng anh em viết, xử lý. Anh thích viết báo, làm báo, nhưng thi thoảng viết truyện, làm thơ. Cái sự linh hoạt, tháo vát, nỏ chuyện của anh làm cho anh em bên điện ảnh tài liệu rất mê, thường đặt anh viết lời bình cho phim. Làm báo nhanh nhạy cũng giúp anh bén duyên với sân khấu. Khi anh chuyển sang làm tổng biên tập Tạp chí Sân khấu cũng là lúc cái tài viết kịch bản phát lộ, sớm thành công. Anh viết nhiều vở, dựng đã nhiều, cụm tác phẩm kịch bản sân khấu của Hà Đình Cẩn được trao Giải thưởng Nhà nước đợt này gồm: "Trò đùa người lớn", "Nữ kiệt biệt quân vương", "Rừng thức", "Phong tỏa". Tôi biết kho kịch bản sân khấu và kịch bản phim truyện của anh còn nhiều mà vì lý do nào đó chưa được thành kịch, thành phim. Tôi cũng biết, tuổi ngoài 60, sức viết của anh vẫn đang sung lắm.

Người thứ ba trong ba chàng ngự lâm… phóng bút được nhận Giải thưởng Nhà nước năm nay là nhà thơ Anh Ngọc. Anh tên thật là Nguyễn Đức Ngọc. Tôi biết đến tên những người anh em của anh trước khi biết đến anh. Đó là Nguyễn Đức Đăng Đàn, nhà nghiên cứu, phê bình văn học. Nguyễn Đức Tâm, nhà địa chất. Năm 1973, anh chiến sĩ thông tin từ chiến trường Quảng Trị Nguyễn Đức Ngọc đoạt giải nhì cuộc thi thơ trên Báo Văn nghệ, sau đó anh được điều về Báo Quân đội nhân dân. Cuộc tiếp xúc đầu tiên của anh với tôi ở báo không nói việc làm báo mà là chuyện thơ của anh. Cái con người thư sinh dòng dõi, yêu thơ, mê mải làm thơ mà hăng hái đi chiến trường, mà viết báo thật hay. Năm 1975, anh vào miền Nam trước tôi nhưng vì nhiệm vụ ở Phan Rang, Phan Thiết, anh đến Sài Gòn sau tôi. Đêm 30-4 anh vào thành phố, mắc võng nằm giữa công viên, hai ngày hôm sau, tôi gặp anh trên đường Thống Nhất (đường Lê Duẩn ngày nay), thế là cùng nhập, cùng đi. Chúng tôi theo tàu Hải quân ra đón anh em tù chính trị ở Côn Đảo, cùng viết chung bài phóng sự "Thăm Côn Sơn, hòn đảo bất khuất", cùng đăng phóng sự ảnh "Côn Đảo giải phóng". Cái chất thơ trong Anh Ngọc làm cho các bài báo viết của anh giàu chi tiết, sắc độ cảm hứng. Nhiều sự việc, chuyến đi tưởng chẳng có gì anh cũng viết bài đọc rất thú vị. Chỉ ngồi con tàu Thống Nhất đi từ Hà Nội đến Thành phố Hồ Chí Minh, trong khi các nhà báo, nhà văn khác không viết được là bao thì Anh Ngọc đã viết được bút ký đăng 6 kỳ báo. Ở các mặt trận biên giới phía Bắc hay Cam-pu-chia, anh đều lẩy được những nét nhân văn trong chiến sự. Anh cũng là phóng viên đầu tiên chụp được bộ ảnh về nhà tù Tuôl Sleng khủng khiếp ở Phnôm Pênh.

Thi sĩ nhưng xông xáo, đi đến đâu cũng có bài báo, có ảnh. Và đi đến đâu cũng có thơ. Từ mặt trận cực Nam Trung Bộ, sau này anh viết Trường ca "Sông núi trên vai". Vào Sài Gòn, mắc võng ngủ giữa công viên anh cũng có bài thơ "Mắc võng ở công viên". Từ Côn Đảo về, anh có Trường ca "Sóng Côn Đảo". Đi chiến trường Cam-pu-chia, anh có trường ca "Sông Mê Công bốn mặt"… Trường ca "Sông Mê Công bốn mặt" cùng Trường ca "Ngàn dặm và một bước" của Anh Ngọc là hai tác phẩm được trao Giải thưởng Nhà nước năm nay.

Ở cùng các anh, các chị vừa làm báo, vừa làm thơ, viết văn, vẽ tranh, chụp ảnh nghệ thuật, tôi biết các anh, các chị đã phải gắng sức mình thế nào để đeo đuổi đam mê văn chương, nghệ thuật. Sau các anh Lê, Ngọc, Cẩn… lại tiếp nối những cái tên nhà báo-nhà thơ ở Báo Quân đội nhân dân: Nguyễn Hồng Hà, Hà Phạm Phú, Đỗ Trung Lai, Phạm Quang Đẩu, Trần Anh Thái, Hồng Thanh Quang… Tờ báo thời nào cũng là cái nôi truyền cảm hứng, trợ sức cho văn chương, nghệ thuật. Làm báo, đòi hỏi ở nhau nhiều nhưng cũng đỡ đần, nhường nhịn cho nhau khi những giây phút bay bổng hay tháng ngày cặm cụi văn chương.

MẠNH HÙNG

Họ và tên:
Email:
Tiêu đề:
Mã xác nhận:

Nội dung
Gõ tiếng việt :    Off   Telex   VNI   VIQR
Các tin khác