 |
|
Chiến thắng Điện Biên Phủ lịch sử |
(Qua hồi ký của Đoai Đê-vit Ai-xen-hao)
Đoai Đê-vit Ai-xen-hao là Tổng thống thứ 34 và 35 của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ. Trong nhiệm kỳ đầu (1953-1956), ông ta chứng kiến và theo dõi từ đầu cho đến kết thúc Chiến cục Đông Xuân 1953-1954, đặc biệt là chiến dịch Điện Biên Phủ “chấn động địa cầu” của quân và dân ta trong cuộc chiến chống lại cuộc chiến tranh xâm lược nước ta lần thứ hai (1945-1954) của thực dân Pháp, được sự hà hơi, tiếp sức của đế quốc Mỹ. Trong hồi ký “Những năm ở nhà Trắng”, xuất bản lần đầu tiên vào năm 1963, Tổng thống Ai-xen-hao dành hẳn 50 trang viết để nói về sự kiện này. Mặc dù đứng trên lập trường hoàn toàn đối lập đối với cuộc kháng chiến của quân và dân ta và bằng những lời lẽ che đậy, nhưng Ai-xen hao không khỏi bị ám ảnh bởi thất bại tất yếu của đội quân viễn chinh Pháp trong cuộc chiến tranh phi nghĩa mà chúng đã tiến hành, trong đó có một phần trách nhiệm do sự dính líu của Mỹ. Ông ta viết: “Đầu năm 1951, vấn đề Đông Dương đã được tôi lưu ý đến một cách mạnh mẽ khi tôi làm Tư lệnh Đồng minh quân đội NATO với Tổng hành dinh đóng tại Pa-ri”. Đặt trong bối cảnh của cuộc “Chiến tranh lạnh” giữa phe xã hội chủ nghĩa và phe tư bản chủ nghĩa, cuộc chiến tranh Đông Dương đã được Ai-xen-hao xem như “Cuộc chiến đấu giữa chủ nghĩa cộng sản với các lực lượng không cộng sản”, chứ không phải là “nhằm đặt ách thống trị của Pháp” ở Việt Nam. Vì vậy, chỉ vài tháng sau khi bước vào Nhà Trắng, trong thông điệp ngày 5-5-1953 gửi Quốc hội Mỹ, Tổng thống mới đương nhiệm đã “chỉ ra sự cần thiết phải giúp cho Pháp và các quốc gia liên kết những tài nguyên lớn hơn để chống lại cuộc xâm lăng của cộng sản, điều đó nằm trong lợi ích của chính chúng ta”.
Khi được cử sang Đông Dương làm Tổng tư lệnh quân đội viễn chinh Pháp, tướng Hen-ri Na-va đã đưa ra một kế hoạch quân sự mang tên ông ta: “Kế hoạch Navarre”- một kế hoạch toàn bộ, theo đó ông ta hy vọng rằng có thể chấm dứt chiến tranh mà thắng lợi thuộc về nước Pháp. Đặt niềm tin và hy vọng vào kế hoạch của Na-va, trong bức điện ngày 10-2-1954 gửi cho Ngoại trưởng, Ai-xen-hao hình dung “Cái gọi là kế hoạch Na-va đã hình dung một chiến thắng lớn vào mùa hè năm 1955”. Tổng thống Mỹ đã ủng hộ cái kế hoạch đầy tham vọng của tướng Pháp Na-va, không chỉ trong lời nói mà bằng những hành động cụ thể nữa. Ông ta đã kể lại trong hồi ký: “Nhằm giúp cho kế hoạch này có thể thực hiện được, ngày 30-9-1953, Mỹ đã chấp thuận và cấp thêm cho Pháp 385 triệu đô la, ngoài số viện trợ dành cho Pháp trước đó”, Và “Để nghiên cứu những biện pháp mới, có thể thực hiện được nhằm yểm trợ cho kế hoạch Na-va, tôi đã chỉ thị phải thành lập một ủy ban đặc biệt gồm có Thứ trưởng bộ Ngoại giao Bedell Smith. Thứ trưởng bộ Quốc phòng Roger Kyes, các tham mưu trưởng liên quân và Allen Dules (Cục trưởng cục tình báo CIA”. Giữa tháng 2-1954, Ai-xen-hao viện trợ thêm cho Pháp ở Đông Dương một số máy bay B.26. Cũng trong tháng đó, Tổng thống Mỹ đã gửi sang Đông Dương 200 nhân viên kỹ thuật (không quân) nhằm giúp Pháp bảo trì và sửa chữa các máy bay mà Mỹ đã viện trợ cho Pháp. Trong khi đó “Các đơn vị Việt Minh bao vây Điện Biên Phủ được tăng cường” và “Ngày 13-3-1954, họ mở cuộc tấn công đầu tiên và quy mô lớn vào căn cứ này”.
Tổng thống Mỹ đã theo dõi sát sao những trận đánh trong chiến dịch Điện Biên Phủ với một sự quan tâm đặc biệt, theo lời Ai-xen-hao: “Hai ngày sau, pháo binh Việt Minh đã làm cho các đường hàng không của Pháp ở Điện Biên phủ không thể hoạt động được nữa, ít ra cũng là tạm thời”. Nhà Trắng bắt đầu lo âu: “Trong các cuộc thảo luận của chúng tôi ở Oa-sinh-tơn, chúng tôi đều thừa nhận rằng tuy vị trí của Điện Biên Phủ không có ý nghĩa quan trọng quân sự gì, nhưng sự thất thủ của đội quân tinh nhuệ đồn trú ở đó sẽ có những hậu quả tâm lý to lớn và nghiêm trọng đối với Pháp”.
Giữa lúc đó, tướng Pôn Êly, Tổng tham mưu trưởng Pháp đã từ Sài Gòn bay thẳng sang Wasington để cầu cứu Mỹ. Nhà Trắng đón tiếp Êly một cách trọng thị và thống nhất với nhau phải làm mọi việc có thể làm được để gíp đỡ Na-va. Trước Hội các Chủ bút Mỹ, Phó tổng thống Ri-chat Ních-xơn tuyên bố: “Bây giờ chúng ta đành phải liều gửi thanh niên của chúng ta sang (Việt Nam). Tôi nghĩ Hành pháp phải có một quyết định không được lòng dân về mặt chính trị và phải tiến hành điều đó”. Bình luận về ý kiến này của Ních-xơn, Ai-xen hao viết: “Lẽ dĩ nhiên, điều này là một khả năng: vấn đề đó luôn luôn được nghiên cứu”. Đô đốc Ac-tơ W.Ra-pho, Chủ tịch Hội đồng các Tham mưu trưởng liên quân lúc đó muốn: “Yểm trợ cho Pháp bằng những cuộc tấn công bằng không quân, có thể từ các tàu sân bay xuống những vị trí đóng quân của cộng sản xung quanh Điện Biên Phủ”. Theo Phó tổng thống Ních-xơn, W.Ra-pho còn đề nghị rằng: “Chúng ta phải sử dụng 60 máy bay ném bom B.29 ở Phi-líp-pin, mở các cuộc đột kích vào ban đêm để tiêu diệt các vị trí của Việt Minh và cũng đã đặt ra một kế hoạch, được biết đến với cái tên “chim Kền Kền” nhằm đạt cùng một mục tiêu với ba quả bom nguyên tử chiến thuật nhỏ”.
Trong khi Mỹ đang bày mưu tính kế với các Đồng minh thì tình hình quân Pháp ở Điện Biên Phủ ngày một tồi tệ... Đến ngày 7-5-1954 “Pháo đài sụp đổ, vị trí cuối cùng (của quân Pháp) bị thu hẹp lại, không khác gì sân bóng chày”. Vì không được sự đồng tình của chính phủ Anh, sự phản đối của Quốc hội Mỹ, Tổng thống Ai-xen-hao không thực hiện được âm mưu đưa quân chiến đấu Mỹ sang giúp Pháp và ném bom nguyên tử xuống Điện Biên Phủ. Ông ta đành than thở: “Mặc dù chúng tôi có thể thấy được sự kết thúc, nhưng sự đầu hàng của đạo quân đồn trú ở Điện Biên Phủ vào phút chót thật là đáng buồn”./.
Thu Trang