Kế thừa và phát triển kinh nghiệm bảo đảm hậu cần trong chiến dịch “Điện Biên Phủ trên không”
QĐND - Thứ hai, 10/12/2012 | 20:44 GMT+7 printIn trang này

Cách đây 40 năm, từ ngày 18-29/12/1972, đã diễn ra cuộc đọ sức quyết liệt giữa quân và dân ta với không quân Mỹ trên bầu trời Hà Nội và Hải Phòng. Do làm tốt công tác chuẩn bị, với bản lĩnh, trí tuệ và sức mạnh tổng hợp của toàn quân, toàn dân, chúng ta đã quật đổ thần tượng pháo đài bay B.52 của đế quốc Mỹ, làm nên trận “Điện Biên Phủ trên không” lịch sử. Thắng lợi này là minh chứng về tầm nhìn chiến lược của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Bộ Chính trị ngay từ năm 1967 đã dự báo: “Sớm muộn gì, đế quốc Mỹ cũng sẽ đưa máy bay B.52 đánh ra Hà Nội, trước khi chúng chịu thua trong cuộc chiến tranh Việt Nam”.

Vận tải chở hàng phục vụ chiến dịch trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Ảnh tư liệu

Sau những thất bại nặng nề, liên tiếp về chính trị, quân sự trên các chiến trường ở cả hai miền Nam-Bắc Việt Nam, đặc biệt là trong cuộc tấn công chiến lược năm 1972, cùng với sự chia rẽ ngày càng sâu sắc trong nội bộ nước Mỹ, ngày 22/10/1972, Mỹ buộc phải chấp nhận dự thảo Hiệp định Paris do phái đoàn ta chuẩn bị. Nhưng với bản chất ngoan cố, xảo quyệt, ngay sau đó, Mỹ đã tráo trở, lật lọng, trì hoãn việc ký kết, đồng thời ráo riết chuẩn bị tiến hành thực hiện hành động phiêu lưu quân sự mới nhằm giành thế mạnh, hòng buộc ta chấp nhận điều kiện của họ. Trước tình hình trên, cuối tháng 11/1972, Bộ Chính trị và Quân uỷ Trung ương nhận định: có khả năng địch đánh phá trở lại miền Bắc với mức độ ác liệt hơn, kể cả việc dùng máy bay B.52 ồ ạt tấn công Hà Nội và Hải Phòng. Các địa phương ở những nơi dự kiến máy bay B.52 sẽ ném bom được lệnh khẩn trương sơ tán về người, kho tàng, vật chất đến nơi an toàn. Hệ thống còi, loa phóng thanh phục vụ báo động, công sự chiến đấu và hầm ẩn nấp ở các tỉnh, nhất là thành phố Hà Nội và Hải Phòng nhanh chóng được tu sửa, đào đắp  thêm. Nếp sống, sinh hoạt, sản xuất thời chiến ở Hà Nội, Hải Phòng được tái lập và duy trì chặt chẽ. Để đánh bại cuộc tập kích bằng máy bay B.52 của Mỹ, Bộ Quốc phòng giao cho Bộ Tư lệnh Quân chủng Phòng không-Không quân (PK-KQ) tổ chức Chiến dịch phòng không Hà Nội-Hải Phòng. Tham gia Chiến dịch có 6 trung đoàn tên lửa phòng không, 4 trung đoàn không quân tiêm kích, 16 trung đoàn và 22 tiểu đoàn pháo phòng không, 4 trung đoàn rađa, 346 đơn vị pháo và súng máy phòng không của bộ đội địa phương, dân quân tự vệ.

Trước đó, dưới sự chỉ đạo của Quân uỷ Trung ương-Bộ Quốc phòng, trực tiếp là Đại tướng Võ Nguyên Giáp-Bộ trưởng Bộ Quốc phòng-Tổng tư lệnh, công tác chuẩn bị Chiến dịch được tiến hành rất khẩn trương, chặt chẽ. Nhiều kíp chiến đấu của đơn vị tên lửa, không quân, ra đa cùng cán bộ Viện kỹ thuật Quân sự được điều động vào phía Nam Quân khu 4, sang nước bạn Lào để nghiên cứu và thực nghiệm, hoàn thiện cách đánh máy bay B.52. Từ thực tế chiến đấu và sau nhiều lần rút kinh nghiệm, ngày 31/10/1972, tài liệu “Cách đánh máy bay B.52” được thông qua và nhanh chóng đưa vào chương trình huấn luyện cho bộ đội. Ngày 22/11/1972, Trung đoàn tên lửa 263/Sư đoàn 367 bắn rơi 1 chiếc B.52 ngay tại biên giới Việt - Lào, cách trận địa khoảng 200 km, đã khẳng định lòng tin đánh thắng máy bay B.52 trong toàn Quân chủng.

Để bảo đảm hậu cần (BĐHC) cho Chiến dịch, Quân uỷ Trung ương xác định nhu cầu tiêu thụ vật chất hậu cần là rất lớn, đòi hỏi phải làm tốt công tác chuẩn bị và khẩn trương. Do vậy, Tổng cục Hậu cần nhanh chóng chỉ đạo các đơn vị chuyển trạng thái sinh hoạt của bộ đội phù hợp với điều kiện tác chiến; khẩn trương sơ tán kho tàng; bổ sung vật chất, khí tài, đạn dược cho các đơn vị, ưu tiên bảo đảm đạn tên lửa, khí tài và xăng dầu.

Về bảo đảm vật chất quân nhu, các cấp đẩy nhanh việc tiếp nhận, vận chuyển hàng hoá đang còn ở các bến bãi, nhà ga, bến cảng... về kho nơi sơ tán. Kiểm tra, đôn đốc các kho, đơn vị khẩn trương cấp đủ vật chất quân nhu cho các đơn vị phòng không, nhất là Sư đoàn 361, 363. Hiệp đồng với các cơ quan, đơn vị địa phương phối hợp bảo đảm vật chất tại chỗ cho các đơn vị theo từng khu vực, hạn chế vận chuyển bảo đảm khi tác chiến. Ngoài lượng vật chất dự trữ thường xuyên và SSCĐ, Cục Quân nhu đã cấp cho Quân chủng PK-KQ gần 400 tấn lương khô, thực phẩm các loại và được cất trữ tập trung tại các hầm gần trận địa, sân bay để bổ sung kịp thời cho đơn vị. Nhờ vậy, trong suốt 12 ngày đêm Chiến dịch, bộ đội phòng không luôn được ăn nóng, ăn tăng thêm định lượng bằng thực phẩm tươi và có đủ nước uống... Riêng phi công lái máy bay phản lực chiến đấu được cấp thêm khẩu phần lương khô không quân để sẵn trong khoang lái; khi trực chiến đấu được ăn 5 bữa, bảo đảm nhiệt lượng 4.745 Kcalo/người/ngày. Do đó, bộ đội luôn bảo đảm đủ sức khoẻ chiến đấu liên tục, dài ngày. 

Đối với ngành Quân y, các đơn vị phòng không đã kết hợp chặt chẽ với cơ sở dân y địa phương hình thành tuyến cứu chữa người bị thương theo khu vực. Tuyến 1, quân y trận địa kết hợp với tổ chức y tế của cơ quan, xí nghiệp, hợp tác xã... làm nhiệm vụ cấp cứu ban đầu. Tuyến 2, kết hợp quân y đơn vị với trạm y tế các xã, khu phố làm nhiệm vụ bổ sung cấp cứu. Tuyến 3, kết hợp quân y với các bệnh viện, bệnh xá huyện, khu phố, nhà máy lớn... làm nhiệm vụ băng bó, cấp cứu, xử lý vết thương không quá phức tạp; tổ chức các đội phẫu thuật cơ động sẵn sàng xử trí tình huống khi cần thiết. Tuyến 4 gồm các bệnh viện quân y kết hợp với bệnh viện tỉnh, thành phố, đảm nhiệm xử lý các vết thương phức tạp, chuyên khoa sâu, chỉ đạo và chi viện kỹ thuật cho tuyến trước.

Trong công tác bảo đảm xăng dầu, đầu năm 1972, Tổng cục Hậu cần đã phối hợp với các cơ quan, địa phương liên quan hoàn thành thi công và đưa vào vận hành hai tuyến đường ống chiến lược: Lạng Sơn-Hà Nội và Bãi Cháy (Quảng Ninh)-Hà Nội, nối với tuyến đường ống nam Hà Nội (Nhân Vực) vào tới Cam Lộ và sang phía nam Đường 9 (3278km) đáp ứng yêu cầu tiếp nhận, vận chuyển lượng lớn xăng dầu từ nước bạn viện trợ. Dưới sự điều hành của Ban Xăng dầu Trung ương, các kho xăng dầu quốc gia như: Hữu Lũng (Lạng Sơn); Trại Sơn (Thuỷ Nguyên -Hải Phòng), phối hợp với các kho chiến lược ở bắc sông Hồng dự trữ đủ nhu cầu xăng dầu cho các đơn vị phòng không và các sân bay. Mỗi sân bay dự trữ từ 30-40 ngày chiến đấu, riêng sân bay Đa Phúc dự trữ nhiều hơn. Đầu năm 1972, Quân khu Tả ngạn còn dùng xe xitéc vận chuyển 1.600 tấn xăng dầu từ Lạng Sơn, Bắc Thái về bảo đảm cho các đơn vị; Quân chủng PK-KQ thu hồi các bể cũ (loại 4,5m3) để sửa chữa, lắp đặt trên xe tải và súc rửa hàng nghìn thùng phuy cấp cho đơn vị. Toàn bộ số máy bay chiến đấu được thay dầu mới.

Việc bảo đảm đầy đủ kịp thời đạn, khí tài cho các đơn vị phòng không- không quân luôn là ưu tiên số 1. Tuy nhiên, lúc này lượng dự trữ rất hạn chế và thiếu đồng bộ, số khí tài mới do các nước bạn viện trợ chưa tới kịp; đạn tên lửa dự trữ không nhiều, một số quá niên hạn sử dụng... Trước tình hình trên, Tổng cục Hậu cần chỉ đạo Cục Quân khí, Cục Quản lý Xe-máy phối hợp với hậu cần Quân chủng PK-KQ tập trung kiểm tra kỹ thuật, bảo dưỡng, sửa chữa khôi phục khí tài, trang bị. Đồng thời huy động tối đa phương tiện vận chuyển bổ sung vũ khí, khí tài, đạn và vật chất thiết yếu cho các đơn vị. Nhờ đó, khi bước vào chiến dịch, các đơn vị tên lửa ở Hà Nội dự trữ 2,16 cơ số đạn, ở Hải Phòng dự trữ 1,8 cơ số. Đến ngày 03/12/1972, mọi mặt công tác chuẩn bị cho đánh máy bay B.52 đã hoàn thành.

Về tình hình địch, từ giữa tháng 12/1972, Mỹ điều thêm tàu sân bay đến Vịnh Bắc Bộ; liên tục cho máy bay trinh sát Hà Nội, Hải Phòng, thả thuỷ lôi phong toả vùng ven biển, cửa sông ở miền Bắc. Ngày 14/12/1972, Tổng thống Mỹ Níchxơn quyết định mở Chiến dịch “Lainơbếchcơ II” dùng máy bay B.52 đánh phá, huỷ diệt Hà Nội, Hải Phòng.

Mở màn Chiến dịch, từ 20 giờ ngày 18/12/1972, Mỹ sử dụng 129 lần chiếc máy bay B.52 và trên 160 lần chiếc máy bay chiến thuật đánh phá Hà Nội, Hải Phòng. Ngay ngày đầu tiên, ta đã bắn rơi 8 máy bay của Mỹ, trong đó có 3 chiếc B.52 và 1 chiếc F.111 (là loại máy bay cường kích rất hiện đại “cánh cụp, cánh xoè”). Tiếp những ngày sau đó, ta bắn rơi 45 máy bay nữa (trong đó có 15 máy bay B.52 và 4 chiếc F.111); riêng đêm ngày 20/12, ta bắn rơi 7 máy bay B.52 và 7 máy bay chiến thuật của Mỹ.

Từ ngày 26-29/12, Mỹ đã huy động mức cao nhất lực lượng không quân chiến lược, đánh ồ ạt vào Hà Nội và Hải Phòng (chủ yếu đánh đêm), ném bom rải thảm các khu công nghiệp, khu đông dân cư. Riêng đêm 26/12, Mỹ huy động gần 130 lần chiếc B.52 đánh Hà Nội, Hải Phòng, Thái Nguyên. Tuy trận chiến đấu đêm 26/12 chỉ diễn ra trong vòng 1 giờ, nhưng lực lượng phòng không Hà Nội, Hải Phòng, Thái Nguyên đã bắn rơi 18 máy bay các loại, trong đó có 8 chiếc máy bay B.52 và bắt sống nhiều giặc lái. Những ngày sau đó, nhiều máy bay B.52 của Mỹ tiếp tục bị bắn rơi trên bầu trời Hà Nội.

Sau 12 ngày đêm Chiến dịch, mặc dù Mỹ đã huy động trên 740 lần máy bay B.52 và hơn 1.000 lần chiếc máy bay chiến thuật, nhiều khí tài điện tử hiện đại, ném hàng vạn tấn bom xuống Hà Nội, Hải Phòng... nhưng địch không đạt được mục tiêu đề ra, lại bị tổn thất lớn (81 máy bay, trong đó có 34 chiếc máy bay B.52, 5 chiếc F.111 bị bắn rơi, nhiều giặc lái bị bắt). Riêng Hà Nội đã bắn rơi 30 máy bay (trong đó có 23 máy bay B.52 và 2 chiếc F.111). Ngày 30/12/1972, Tổng thống Mỹ Nichxơn buộc phải tuyên bố chấm dứt chiến dịch Lainơbếchcơ II, ngừng ném bom từ bắc vĩ tuyến 20 trở ra và nối lại đàm phán ở Paris.

Trong Chiến dịch này, hậu cần các cấp đã bảo đảm kịp thời mọi nhu cầu vật chất cho lực lượng phòng không ba thứ quân chiến đấu. Trong 12 ngày đêm, riêng Sư đoàn 361 tiêu thụ 2.500 tấn đạn các loại (bằng 12% tổng số đạn Quân chủng PK-KQ tiêu thụ trong hai cuộc chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ tại miền Bắc). Mặc dù trong chiến đấu ác liệt, nhưng việc sửa chữa, thay thế, bổ sung vũ khí, trang bị và cứu chữa thương binh, nhân dân bị thương vẫn được triển khai nhanh chóng, kịp thời...

Thành công trong công tác BĐHC cho Chiến dịch Điện Biên phủ trên không” để lại nhiều bài học sâu sắc về tư duy dự báo chiến lược; chuẩn bị tốt thế trận và tiềm lực hậu cần; phát huy sức mạnh tổng hợp của hậu cần toàn dân; kết hợp chặt chẽ hậu cần quân đội với hậu cần nhân dân trong bảo đảm. Trong công tác chuẩn bị phải có nhiều phương án bảo đảm, điều chỉnh linh hoạt phù hợp với thực tiễn; bố trí hậu cần hợp lý, lấy bảo đảm theo khu vực và hướng là chủ yếu; chỉ huy, chỉ đạo chặt chẽ, tích cực phòng tránh, sơ tán bảo toàn lực lượng để duy trì khả năng bảo đảm kịp thời, liên tục... Những bài học kinh nghiệm đó vẫn còn nguyên giá trị, cần được nghiên cứu, kế thừa, phát triển nhằm BĐHC cho các lực lượng vũ trang (LLVT) sẵn sàng chống lại chiến tranh vũ khí công nghệ cao của địch. Trong đó chú trọng một số vấn đề sau:

Một là, vận dụng bài học về sự nhạy bén, nắm chắc dự báo chiến lược để luôn chủ động chuẩn bị trước về hậu cần. Trên cơ sở đường lối, chủ trương của Đảng, Nhà nước trong chiến lược bảo vệ Tổ quốc và thực tiễn nước ta hiện nay, cần chủ động nghiên cứu, tham mưu cho Bộ Quốc phòng về xây dựng thế trận và tiềm lực hậu cần chung và tại chỗ trên từng hướng, địa bàn chiến lược. Trước hết, tiếp tục tham mưu cho Bộ trong việc qui hoạch, chỉ đạo, đầu tư, từng bước xây dựng hệ thống căn cứ hậu cần (CCHC) chiến lược và của khu vực phòng thủ (KVPT) địa phương, ưu tiên các hướng, khu vực trọng điểm trên cơ sở kết hợp kinh tế với quốc phòng, quốc phòng với kinh tế. Chú trọng xây dựng mạng giao thông vận tải thông suốt trong mọi tình huống; tiếp tục đầu tư cải tạo hang động, xây dựng các công trình quốc phòng ngầm; tăng cường bảo vệ, chăm sóc và trồng mới rừng... vừa tạo cảnh quan môi trường phát triển kinh tế-xã hội trong thời bình, vừa sử dụng làm nơi triển khai kho trạm, bệnh viện, CCHC phục vụ tác chiến khi có chiến tranh. Cần có lộ trình phù hợp trong việc xây dựng hệ thống cơ sở hạ tầng, chú trọng xây dựng các cơ sở kinh tế gắn với quốc phòng lồng ghép trong các dự án kinh tế-xã hội; phát triển mạnh các đoàn kinh tế-quốc phòng, cơ sở sản xuất hậu cần ở các cấp; tiếp tục nghiên cứu phương án dự trữ trước các loại vật tư chiến lược tại một số nhà máy, xí nghiệp quân đội nhằm chủ động nguồn lực tại chỗ trên các địa bàn trọng yếu chiến lược. Xây dựng thế trận hậu cần các cấp toàn diện, gắn kết chặt chẽ giữa cơ sở kinh tế với hậu cần quân đội; coi trọng “thế trận lòng dân”, lấy hậu cần nhân dân rộng khắp làm cơ sở, hậu cần KVPT làm nền tảng và hậu cần chiến lược chiến dịch làm nòng cốt; tạo nguồn, khai thác tiềm năng hậu cần tại chỗ là cơ bản ; từng bước hình thành các khu vực hậu cần tại chỗ có khả năng độc lập bảo đảm và chuyển hoá nhanh, thích ứng mọi tình huống trên từng hướng chiến lược.

Hai là, thường xuyên coi trọng việc quy hoạch và đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, nhân viên hậu cần có bản lĩnh vững vàng, tri thức cao, chuyên môn giỏi, có khả năng ứng dụng công nghệ hiện đại. Chú trọng xây dựng lực lượng hậu cần dự bị động viên (nhất là lực lượng quân y và vận tải) chất lượng cao, sẵn sàng huy động, động viên khi cần thiết. Tiếp tục đầu tư hiện đại hoá trang thiết bị hậu cần đồng bộ với trang bị tác chiến. Ưu tiên bảo đảm cho các đơn vị chủ lực, trước hết là cho Quân chủng PK-KQ và đơn vị không quân thuộc Quân chủng Hải quân theo hướng “đi tắt, đón đầu” đáp ứng yêu cầu chiến đấu bảo vệ chủ quyền biển đảo và toàn vẹn lãnh thổ. Định kỳ rà soát, hoàn thiện chiến lược mua sắm trang bị hậu cần phù hợp với điều kiện của đất nước, quân đội và yêu cầu BĐHC cho tác chiến tương lai. Đẩy mạnh cải tiến trang bị hiện có, nghiên cứu ứng dụng công nghệ cao tiến tới tự sản xuất nhiều trang bị hậu cần hiện đại, đồng bộ phục vụ tác chiến.

Ba là, định kỳ rà soát kỹ các phương án BĐHC nhằm phát hiện bất cập, kịp thời bổ sung, hoàn thiện hệ thống kế hoạch BĐHC trong các tình huống chiến lược, trước hết là kế hoạch BĐHC phòng tránh đánh địch tiến công hỏa lực của các cấp sát với thực tế và yêu cầu, nhiệm vụ tác chiến tương lai. Trong đó, chú trọng biện pháp phòng tránh bảo toàn lực lượng trong điều kiện địch sử dụng vũ khí công nghệ cao. Kết hợp chặt chẽ giữa hậu cần chiến lược, chiến dịch và KVPT địa phương, hình thành phương án BĐHC theo khu vực tại chỗ trên từng hướng chiến lược. Đối với công tác chỉ huy hậu cần trong tác chiến, yêu cầu phải mưu trí, linh hoạt, quyết đoán, xử trí kịp thời, chính xác trong mọi tình huống. Triệt để tận dụng thời cơ giữa các đợt tác chiến, trận chiến đấu để tổ chức cơ động lực lượng, phương tiện, vận chuyển vật chất, thương binh trên các hướng, khu vực và bổ sung kịp thời, chính xác đến đơn vị có nhu cầu.

Bốn là, vận dụng, phát triển bài học về tổ chức sơ tán, nguỵ trang nghi binh, phối hợp tác chiến bảo toàn lực lượng để duy trì khả năng bảo đảm kịp thời, liên tục. Trong giai đoạn mới, cần nghiên cứu hoàn thiện phương pháp tổ chức và thời cơ sơ tán, giải tỏa vật chất hậu cần chiến lược, chiến dịch (nhất là giải tỏa, sơ tán nhiên liệu, vận chuyển vũ khí đạn) nhằm bảo toàn tiềm lực, đáp ứng yêu cầu bảo đảm tác chiến. Quá trình sơ tán, giải tỏa vật chất hậu cần phải nắm vững khả năng, nhu cầu để cân đối phương tiện vận chuyển, kho tàng trên cơ sở kết hợp giữa lực lượng, phương tiện của Quân đội, Nhà nước và huy động trong dân. Sử dụng đa phương thức, phương tiện trong bảo đảm, hạn chế vận chuyển xa. Ngay từ thời bình cần tích cực, chủ động chuẩn bị hang hầm và điều kiện cần thiết để nhanh chóng triển khai kho trạm hậu cần phân tán trong dân (làng, bản, đình, chùa, kho địa phương...) bảo đảm an toàn, kịp thời phục vụ tác chiến. Đây là một trong những kinh nghiệm quí của chiến dịch “Điện Biên Phủ trên không”. Trong đó, cần vận dụng tổng hợp các biện pháp kỹ thuật và nghệ thuật trong ngụy trang, nghi binh “giấu thật, bày giả” kho, trạm, phương tiện hậu cần. Bố trí lực lượng hậu cần phân tán hợp lý, triệt để tận dụng và cải tạo địa hình, hang động để cất trữ vật chất, trang bị; luôn có lực lượng hậu cần dự bị cơ động mạnh đủ sức xử trí kịp thời các tình huống, nhất là trong phòng tránh, đánh địch tiến công hỏa lực. Mặt khác, cần hiệp đồng chặt chẽ với các lực lượng tác chiến, nhất là lực lượng phòng không và KVPT trong công tác bảo vệ hậu cần; tổ chức khắc phục nhanh hậu quả do địch đánh phá, duy trì khả năng bảo đảm liên tục, đáp ứng yêu cầu tác chiến.

ĐBHC trong chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, đặc biệt trong phòng tránh, đánh trả địch tiến công hoả lực có phạm vi rộng, yêu cầu rất khẩn trương, môi trường tác chiến sẽ rất khốc liệt. Vì vậy, hậu cần các cấp cần tiếp tục nghiên cứu, kế thừa và phát triển các bài học kinh nghiệm BĐHC chiến dịch “Điện Biên Phủ trên không”, nhằm từng bước hoàn thiện các phương án bảo đảm, đáp ứng yêu cầu tác chiến trong mọi tình huống.

Trung tướng Nguyễn Vĩnh Phú - Chủ nhiệm TCHC