Văn học nghệ thuật
Hội thảo sáng tác văn học về đề tài lịch sử
“Viết xưa nhưng phải vì nay”...
QĐND - Thứ Năm, 20/09/2012, 16:2 (GMT+7)

QĐND - LTS: Ngày 7-9-2012 tại Hà Nội, Hội Nhà văn Việt Nam đã tổ chức Hội thảo khoa học “Sáng tác văn học về đề tài lịch sử”. Đại diện Ban Tuyên giáo Trung ương, Hội đồng Lý luận -Văn học nghệ thuật Trung ương; Liên hiệp các Hội VHNT Việt Nam, đại diện Chi hội Nhà văn Việt Nam tại các vùng, miền trong cả nước đã về dự. Hơn 30 tham luận của các thế hệ nhà văn, các tác giả có nhiều tác phẩm về đề tài lịch sử... đã được trình bày tại hội thảo.

Báo Quân đội nhân dân Cuối tuần xin trích giới thiệu một số tham luận trên đây:

Nhà văn Nguyễn Quang Thiều: Các nhà văn không phải là các nhà sử học. Vì vậy sáng tác về đề tài lịch sử không phải là công việc ghi chép tổng hợp những tư liệu về một sự kiện lịch sử, một nhân vật hay một giai đoạn lịch sử... mà là làm hiện lên chân lý và nhân cách của sự kiện, nhân vật, giai đoạn... lịch sử ấy. Lịch sử làm ra bởi con người, vì vậy trực tiếp hay gián tiếp thì cái cốt yếu trong tác phẩm văn học viết về đề tài lịch sử là dựng lên nhân cách và tinh thần sống của những con người làm nên lịch sử bằng cái nhìn vừa mang tính khoa học, vừa đầy trí tưởng tượng phong phú. Nếu không làm được điều đó thì nhà văn viết về đề tài lịch sử chỉ là một người chép sử kém cỏi và vụng về.

Quang cảnh cuộc hội thảo. Ảnh: Xuân Thủy

 

Nhưng cái gì làm nên độ tin cậy về lịch sử thông qua trí tưởng tượng của nhà văn? Đó là chân lý của những sự kiện lịch sử, giai đoạn lịch sử và nhân cách của các nhân vật góp phần làm nên lịch sử ấy mà nhà văn sáng tạo nên. Nhà văn không thể đảo ngược chân lý về những sự kiện lịch sử đã góp phần quan trọng mang lại độc lập -tự do cho dân tộc. Nhà văn không thể đảo ngược nhân cách của những con người đã hiến dâng cuộc đời cho đất nước và góp phần làm thay đổi vận mệnh dân tộc.

Nhà nghiên cứu Phong Lê: Nguyễn Huy Tưởng là bậc thầy sáng tạo văn học đề tài lịch sử. Các tác phẩm của ông đã đề cập những thời kỳ lịch sử quan trọng của dân tộc, như: Đêm hội Long Trì; Bốn năm sau; Sống mãi với Thủ đô; An Dương Vương xây thành ốc; Lá cờ thêu sáu chữ vàng... Tiểu thuyết của Nguyễn Huy Tưởng không bỏ qua nhân vật lịch sử nào, nhưng cũng không quên số phận nhân dân, số phận dân tộc; trong cái được chung nhất của đất nước, có những mất mát thiệt thòi của từng số phận… Trước Nguyễn Huy Tưởng cho đến nay đã có nhiều tác giả viết về đời Trần, nhưng Nguyễn Huy Tưởng viết ấn tượng hơn cả. An Tư là nhân vật chỉ có một dòng trong chính sử, nhưng Nguyễn Huy tưởng đã xây dựng nên một nhân vật điển hình trong văn học, có đời sống, có số phận rất rõ nét. Nhân vật Trần Thông là sáng tạo riêng của Nguyễn Huy Tưởng, nhưng ai đọc cũng thấy đó là một nhân vật lịch sử, đại diện cho tính cách một loại người ở thời Trần. Trong Đêm hội Long Trì đã dựng lên một thời kỳ lịch sử vua Lê chúa Trịnh, nhưng tác giả đã thoát ly khỏi lịch sử để sáng tạo nên những nhân vật điển hình và không thể coi đó là bịa đặt lịch sử. Vượt lên chủ nghĩa lãng mạn, Nguyễn Huy Tưởng đã chạm đến hai vấn đề lớn: Chủ nghĩa yêu nước và khát vọng hòa bình.

Nhà văn Nguyễn Xuân Khánh: Một vấn đề vô cùng quan trọng trong sáng tác văn học đề tài lịch sử là đánh giá lịch sử. Lịch sử diễn ra với các sự kiện và nhân vật nhất định. Nó diễn ra chỉ một lần và không lặp lại. Ta cứ tưởng như nó hoàn toàn cố định, song dưới con mắt của nhiều người khác nhau và những cái nhìn ở những thời đại khác nhau, sẽ có nhiều đánh giá khác nhau. Các nhà sử học ngày xưa, vì đứng trên quan điểm phong kiến nho giáo, hay vì sự áp lực của nhà cầm quyền thời họ sống, nên sự chép sử của họ đã gây ra những ý kiến bàn cãi của hậu thế. Ví dụ như sự đánh giá các triều đại Mạc, Hồ và Tây Sơn là ba triều đại bị quốc sử ngày xưa gọi là “ngụy”. Tôi nghĩ, tính dễ nhạy cảm, dễ gây tranh cãi cũng là tính hấp dẫn của đề tài lịch sử. Nếu như có tranh cãi, có sự không đồng thuận cũng là lẽ thường và lành mạnh trong một nền văn học dân chủ tiến bộ. Nhà văn viết về đề tài lịch sử trước khi viết đã phải đánh giá lịch sử sao cho công bằng, khách quan, khoa học, tránh chủ quan làm sai lệch vấn đề. Nhà văn chịu trách nhiệm về những trang viết của mình. Còn những nhà phê bình, nhà quản lý thì cũng nên bình tĩnh, khách quan, tránh thành kiến, quy chụp...

Nhà văn Hoàng Quốc Hải: Tôi nghĩ rằng nếu nước ta có một nền giáo dục bình thường, tuổi học sinh, sinh viên mọi người được học tập lịch sử một cách bình thường, việc giảng dạy lịch sử được minh bạch và khoa học... thì chúng ta sẽ đào tạo được những lớp người có tri thức lịch sử đúng chuẩn. Và nếu như cơ sở nhận thức của nhà văn về lịch sử đã đúng chuẩn, thì trong các tác phẩm văn học viết về lịch sử của họ không thể phản lịch sử, phản khoa học. Không phải lịch sử có cái gì, nhà văn cứ phải nhất nhất tuân theo. Lịch sử được ghi chép lại các sự kiện thông qua các sử gia. Các nhà nghiên cứu lịch sử phải lấy đó làm điểm tựa, còn các nhà văn chỉ coi nó là những thông tin để tham chiếu. Đôi khi nhà văn không đặt niềm tin tuyệt đối vào nó, bởi nhà văn là người giải mã lịch sử chứ không là nô lệ của lịch sử. Do đó biên độ hư cấu của nhà văn là không giới hạn. Thuộc tính của tiểu thuyết là hư cấu, tiểu thuyết lịch sử cũng không có ngoại lệ. Tuy nhiên, sự hư cấu trong các tác phẩm văn học kể cả các tác phẩm đương đại và tác phẩm viết về lịch sử đều phải đạt tới giá trị chân thực của cuộc sống, chứ không cho phép sự tùy tiện, áp đặt theo dụng ý của người viết.

Nhà văn Hoàng Minh Tường: Nhà văn có khả năng bù đắp một cách kỳ diệu những khoảng trống, những phần khuất lấp quá khứ mà các sử gia còn còn né tránh hoặc bỏ ngỏ. Có rất nhiều dẫn chứng về các nhà tiểu thuyết lịch sử vĩ đại Đông -Tây, như: Đích-ken, Ban-dắc, Thác-cơ-re, Vích-to Huy-gô, Lép Tôn -xtôi, Sô-lô-khốp, La Quán Trung, Tào Tuyết Cần... ở Việt Nam ta cũng có nhiều tên tuổi: Nguyễn Khoa Chiêm, Ngô gia văn phái, Lan Khai, Vũ Triệu Luật, Nguyễn Huy Tưởng, Chu Thiên, Nguyễn Mộng Giác, Nguyễn Xuân Khánh, Hoàng Quốc Hải, Nguyễn Quang Thân v.v.. Nếu không có Xen -xkie-vích thì nhân loại làm sao hình dung được một Nê -rô bạo chúa? Nếu không có A -lếch-xan Tôn -xtôi, chân dung Pie Đại đế, vị vua nước Nga không thể được hậu thế nhìn nhận sống động như chính con người vĩ đại mà tàn nhẫn ấy. ở Việt Nam, tôi nghĩ rằng, trước cả tiểu thuyết Hoàng Lê nhất thống chí của Ngô gia văn phái gần trăm năm, thì tiểu thuyết “Nam triều công nghiệp diễn chí” hay là “Việt Nam khai quốc chí truyện” của Bảng trung Nguyễn Khoa Chiêm đáng được coi là cuốn tiểu thuyết lịch sử Việt Nam đầu tiên đồ sộ và bao chứa nhiều sự kiện, nhiều chân dung nhân vật lịch sử trong khoảng thế kỷ 16-17. Với hơn 600 trang sách chia thành các chương hồi, cuốn tiểu thuyết đã tái hiện lại cuộc đi mở cõi phương Nam của chúa Nguyễn Hoàng và vùng đất quyết chiến chiến lược, cuộc Trịnh Nguyễn phân tranh mà hơn hai trăm năm sau, lịch sử lại chọn lựa làm chiến tuyến khốc liệt…

PGS, TS Nguyễn Đăng Điệp: Thông thường, tiểu thuyết lịch sử gắn liền với cảm hứng tôn vinh dân tộc. Cảm hứng ấy thuận chiều với tâm thức chung của cộng đồng khi nhìn nhận những giá trị lịch sử và các nhân vật anh hùng. Bởi thế, những hiện tượng “giải thiêng” lịch sử rất dễ vấp phải sự phản ứng quyết liệt của người đọc. Đây rõ ràng là một thử thách đối với nhà văn trong không gian sáng tạo hiện đại và hậu hiện đại. Một trong những tư tưởng chủ đạo của hậu hiện đại là giễu nhạihoài nghi. Và một khi thái độ ấy được đẩy lên mức cực đoan, nhà văn sẽ bị cô lập trong cộng đồng diễn giải, nhất là những người đọc đã quen với khoảng cách sử thi trong văn học. Anh ta sẽ bị coi là kẻ thất cược với lịch sử. Tôi nghĩ, lựa chọn hợp lý nhất là nhà văn kiến giải về những thời đại đã qua trên tinh thần nhân văn hiện đại. Anh ta có quyền nhìn lịch sử từ xa (khoảng cách quen thuộc của sử thi) và nhìn lịch sử từ gần (khoảng cách tiểu thuyết), có quyền nói về đời thường của các nhân vật lịch sử mà không làm mất đi sự tôn kính và thái độ tôn trọng lịch sử. Nghĩa là nhà văn hoàn toàn có quyền miêu tả nỗi cô đơn, cảm giác thất bại, niềm vui thắng trận, sự khắc khoải yêu đương, những tính cách “cá biệt” của vĩ nhân... với tư cách là những con người trần thế. Với tư cách là nhân vật tiểu thuyết, họ vừa mang tầm vóc khổng lồ, vừa là những con người bình dị, đời thường. Rất có thể, nếu thông qua cái bình dị, đời thường để làm nổi bật vẻ đẹp của những nhân vật lịch sử, thì nhà văn sẽ tìm thấy tiếng nói của mình trong vô vàn những tiếng nói khác về lịch sử, về con người của những thời đại đã qua.

Dịch giả Trần Đình Hiến: Lịch sử không có hư cấu. Nhà văn dựa vào sự kiện lịch sử để hư cấu nên hình tượng nghệ thuật. Và để có được hình tượng điển hình thì hư cấu phải có giới hạn, không phải tùy tiện vô hạn độ. Tiêu biểu như bộ Tam quốc diễn nghĩa của La Quán Trung có hư cấu, nhưng dưới tư tưởng tôn quân, nên mới được chấp nhận, mặc dù có nhiều nhân vật và sự kiện được hư cấu khác với thực tế lịch sử. Tiêu biểu như nhân vật Tào Tháo trong truyện là một nhân vật hết sức gian hùng, đa nghi, tàn bạo... trong khi nguyên mẫu trong thực tế không đến mức như thế. Vậy mà từ mấy trăm năm nay ở Trung Quốc không ai phản đối La Quán Trung.

Về việc ghi chép lịch sử trước đây thường phải khắc phục 3 hạn chế: Một là thường người thắng cuộc thì chép sử nên đôi khi thiên vị, thậm chí xuyên tạc. Hai là xưa nay quốc sử chính thống thường không dám chép hết cái dở của thời mình, của vua chúa đang trị vì. Ba là trong một số trường hợp do chưa có độ lùi thời gian cần thiết nên nhiều nhận định, đánh giá còn thiếu, phiến diện, chưa chuẩn... buộc đời sau phải bổ sung, đính chính… Và nhà văn phải tham gia vào công việc ấy.

Nhà văn Sương Nguyệt Minh: Tôi nhất trí là nhà văn không phải là người chỉ chép lịch sử. Tôi sáng tác bằng lý trí, thiên về cái tôi chủ quan. Xưa nay viết về đề tài lịch sử thường có hai xu hướng. Một là tái hiện các nhân vật, sự kiện như thật. Hai là dựa vào các sự kiện, nhân vật lịch sử để lý giải lịch sử. Theo tôi hướng thứ hai này hư cấu nhiều hơn và là cơ hội cho sáng tạo thăng hoa, bay bổng. Tôi thường đi theo hướng thứ hai này. Chúng ta viết về đề tài lịch sử trong điều kiện tư liệu về lịch sử rất ít, hiếm hoi, sơ sài… Vì vậy nhiều chi tiết phải tưởng tượng, hư cấu. Vấn đề là hư cấu như thế nào để không nguyên xi như vẽ truyền thần, mà vẫn đúng? ở ta, bao nhiều nhà văn viết về chiến tranh thì có bấy nhiêu cuộc chiến tranh, mỗi người mỗi góc độ, mỗi phía mỗi cách nhìn. Ngay cả một người, ba mươi năm trước viết khác, nay viết về chiến tranh có thể khác. Chúng tôi chỉ phấn đấu đến gần với hiện thực, theo quan điểm nhận thức của chúng tôi. Theo tôi, nhà văn không đi “cãi nhau” với bạn đọc.

Nhà thơ, Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam Hữu Thỉnh: Sáng tác văn học về đề tài lịch sử là vấn đề không còn mới, nhưng luôn luôn cần thiết, nhằm khơi lại chủ nghĩa yêu nước vốn là dòng chảy xuyên suốt lịch sử của dân tộc ta. Sáng tạo văn học đề tài lịch sử là làm sống lại lịch sử dân tộc trong quá khứ. Muốn sáng tạo đến mấy, hư cấu đến mấy mà không có hồn cốt dân tộc thì không thể được.

Văn học viết về đề tài lịch sử là phải làm sống lại kinh nghiệm sống của dân tộc. Viết xưa nhưng phải vì nay, vì lợi ích của nhân dân, của dân tộc ngày hôm nay. Mọi đề tài đều có những quy định của chính nó và nhà văn phải tuân thủ những quy định ấy. Với đề tài lịch sử thì đó là quy định về sự thật lịch sử, chân lý của lịch sử, không thể đổi trắng thay đen được. Mặt khác, lịch sử là một hằng số nhưng cũng là một biến số vì lịch sử luôn luôn phát triển và chưa bao giờ được khám phá đầy đủ. Và nhà văn sẽ tham gia vào quá trình khám phá, phát hiện ấy.

Văn không chạy theo sử, văn tôn sử và văn độc lập với lịch sử. Nếu nhà văn đứng vững trên mảnh đất dân tộc, trên quyền lợi dân tộc, tôn trọng biện chứng của cuộc sống, thì không sợ sai. Và muốn có tác phẩm hay thì phải vứt bỏ những định kiến, phải công tâm, sòng phẳng với lịch sử.

Họ và tên:
Email:
Tiêu đề:
Mã xác nhận:

Nội dung
Gõ tiếng việt :    Off   Telex   VNI   VIQR
Các tin khác