QĐND - Tuồng Huế ngày xưa có hai dòng song song tồn tại. Dòng tuồng bác học thì lặng lẽ hoạt động trong cung đình để phục vụ cho giai cấp thống trị. Còn dòng tuồng dân gian thì sôi nổi biểu diễn ở các rạp hát nhỏ, hoặc sân đình, phục vụ cho đại đa số nhân dân lao động. Dĩ nhiên, tuồng cung đình và tuồng dân gian có một khoảng cách khá xa về nghệ thuật, một bên thì từ sáng tác đến biểu diễn đều theo một quy tắc nghiêm ngặt mang tính chuyên nghiệp rất cao nên được coi là cổ điển, là bác học; còn tuồng dân gian thì biểu diễn có phần tự do, phóng túng, ngẫu hứng, đôi khi còn diễn cương.
Nhà hát Cung đình Huế hiện nay là nơi kế thừa cả hai dòng tuồng dân gian và bác học trên danh nghĩa. Chính xác hơn là Đoàn tuồng Cung đình Huế hiện nay được hình thành từ một di sản của chế độ phong kiến điêu tàn, bởi sự sụp đổ của triều đình nhà Nguyễn cùng với sự tàn phá của hai cuộc chiến tranh kéo dài tới 30 năm. Vì thế mà sự xuất hiện của tuồng Huế ở các liên hoan, hội diễn sân khấu toàn quốc trong những năm gần đây là sự hồi sinh, sự lớn dần của tuồng Huế theo đường lối văn hóa -văn nghệ của Đảng. Từ những vở diễn xuất hiện ban đầu, đến những vở gây ấn tượng sâu sắc trong người xem gần đây, là một quá trình phục hồi với cố gắng rất lớn của những người làm tuồng trên đất Cố đô. Họ là thế hệ trẻ yêu nghề, chăm chỉ học tập, tiếp thu kho tàng tuồng truyền thống, không chỉ ở Huế mà cả ở mọi miền đất nước. Những thầy truyền nghề cho họ ngoài cụ La Cháu gần 100 tuổi vừa mới qua đời, cùng những nghệ sĩ bậc thầy ở Đoàn tuồng Liên khu 5 cũ, như Giáo sư Hoàng Châu Ký và các NSND: Minh Ngọc, Đàm Liên, Hòa Bình, Trần Đình Sanh... Ngay cả nghệ sĩ Trương Tuấn Hải, Giám đốc Nhà hát nghệ thuật Cung đình Huế hiện nay cũng là người trưởng thành từ dòng tuồng Huế và đất Quảng...
 |
|
Triển lãm “Mặt nạ tuồng” tại Festival Huế 2012. Ảnh: Văn Hiến
|
Nói như vậy để thấy việc phục hồi tuồng cung đình Huế từ mảnh đất hoang tàn để đến hôm nay trở thành một hình hài trẻ trung và sung sức là một lộ trình đầy gian khổ của một tập thể nghệ sĩ nhiều thế hệ. Những người làm tuồng ở Cố đô Huế hôm nay vẫn cần cù, khiêm tốn, nhẹ nhàng, nhưng tự tin trong các cuộc đua tài và luôn luôn gây được cảm tình trong đông đảo khán giả, ngay cả trên đất tuồng Bình Định hoặc ở miền đất Quảng nổi tiếng về tuồng.
Tuy vậy, tôi vẫn còn một chút băn khoăn đối với tuồng cung đình Huế. Đó là tính chuyên nghiệp của các diễn viên tuồng ở đây, bởi người diễn tuồng lại kiêm cả hát dân ca Huế. Đó là hai lối hát, hai lối diễn hoàn toàn khác nhau. Sự ảnh hưởng từ ca Huế sang hát tuồng được thể hiện rất rõ trong một số vai diễn làm cho tính mực thước, tính cách điệu rất cao của tuồng bị chi phối trong cảm nhận của người xem. Hát tuồng là hát từ hơi ruột gan, phải “thổ tận cang tràng” nên rất khác với cách hát đậm đặc chất trữ tình dịu ngọt của ca Huế. Nhân đây tôi cũng xin đính chính luận điểm của một nhà nghiên cứu chèo cho rằng “chèo là hát”. “Tuồng thì xướng”. Đó là một nhận thức sai lầm vì tuồng, chèo đều là ca kịch dân tộc, đều là ca hát theo làn điệu, bài bản. Trong tuồng có rất nhiều làn điệu để hát như nói lối, hát nam, hát khách, hát tẩu, bắt bài, bạch, xướng... Điệu xướng chỉ dùng cho những tình huống độc thoại như xướng rượu của nhân vật Trương Phi trong tuồng “Quan Công hồi cổ thành” hoặc vợ chồng Kỷ Lan Anh -Tiết Cương khi hội ngộ trong tuồng Hộ Sanh Đàn của Đào Tấn...
Tuồng Huế hiện nay có một ưu điểm là phục dựng những vở tuồng truyền thống như Tam nữ đồ vương; Sơn Hậu... hoặc tuồng hài Trương Ngáo; Nghêu Sò ốc Hến... và dàn dựng những vở đề tài lịch sử, không biểu diễn đề tài hiện đại. Vì chỉ có diễn vở truyền thống và lịch sử thì mới phát huy được vốn nghề trong ca hát, trong sử dụng trình thức, vũ đạo và động tác cũng như phục trang và đạo cụ.
Nhìn chung, tuồng Huế không chạy theo thị hiếu khán giả trẻ mà biến tuồng thành kịch, không “gieo vừng ra ngô”. Tuy vậy, tuồng Huế hiện nay cũng không tránh khỏi tác động của cơ chế thị trường, cũng không nằm ngoài cuộc khủng hoảng khán giả, cho nên khó khăn vẫn còn nhiều đối với người làm nghề tuồng trên đất Huế. Tôi được biết có những diễn viên đêm đêm phải đi hát dân ca trên sông Hương để có thêm thu nhập. Thậm chí có người còn phi xe máy đi hát Chầu ở tận Đà Nẵng, Quảng Nam... Như vậy còn sức lực đâu mà múa, mà hát, mà hoàn thiện những vai tuồng khó theo đúng nghĩa là tuồng cung đình mẫu mực mà ngày xưa từ vua đến quan đều yêu thích, đam mê.
Tuồng là nghệ thuật tổng hợp, gồm: Văn, thơ, ca múa, nhạc võ thuật... mà người diễn viên một lúc phải thực hiện một cách điêu luyện. Thực hiện được điều đó mới là nghệ sĩ tuồng đích thực, mới thu hút được khán giả yêu tuồng và hiểu tuồng. Người xem hôm nay thờ ơ với tuồng vì tuồng không còn hấp dẫn như ngày xưa, bởi kịch bản tuồng mới thường là tẻ nhạt, đạo diễn tuồng không có tay nghề cao và người diễn tuồng hát chưa thật hay, diễn chưa thật điêu luyện như những nghệ sĩ, nghệ nhân tài danh ngày xưa. Dĩ nhiên còn nhiều yếu tố khác làm cho sân khấu tuồng vắng khách như sự tấn công ồ ạt của các loại hình nghệ thuật hiện đại, như nhạc ngoại, nhạc trẻ và những sự bất ổn trong đời sống v.v...
Huế là cố đô, là đất văn hiến, người Huế ít chịu ảnh hưởng của văn hóa phương Tây và nghệ thuật thương mại. Đó là lợi thế cho tuồng Huế phục hồi và phát triển. Nếu tuồng Huế được sự chăm sóc nhiều hơn nữa thì một tương lai không xa, tuồng cung đình sẽ được phục hồi và Huế sẽ trở thành một trong những địa chỉ nghệ thuật tuồng của nước ta.
Giáo sư Hoàng Chương