QĐND - Xuân Nhâm Thìn này, Đại tá, nhà thơ, nhà báo Lê Kim, cựu phóng viên Báo Quân đội nhân dân bước sang tuổi 86. Vậy mà nét mặt, nụ cười, tiếng nói và cả... giọng văn thơ của ông nữa, vẫn cứ tươi rói, hóm hỉnh, yêu đời... như ngày nào cách đây mấy chục năm. ông là nhà báo nổi tiếng với những mẩu “chuyện thời sự” sâu sắc, tinh tế và những tiểu phẩm đả kích kẻ địch hết sức trực diện và dí dỏm trên Báo Quân đội nhân dân nhiều năm trước đây, sau này tập hợp thành mấy cuốn sách cũng khá ấn tượng. Đặc biệt, ông là nhà thơ với những câu thơ vui nhộn, động viên quân -dân và những bài thơ đả kích, chế giễu kẻ thù trong kháng chiến chống thực dân Pháp, những bài thơ phổ biến và thân thuộc đến mức nhiều người nhầm tưởng là thuộc kho tàng “ca dao kháng chiến”, ví như: Ba thằng một cái chăn bông /Nằm thẳng cũng khổ, nằm cong cũng phiền /Đắp dọc thì hở hai bên /Đắp ngang thì lạnh như tiền cái chân...
Còn nhớ năm 2004, kỷ niệm tròn nửa thế kỷ chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ, nhiều người nói đùa đó là “năm của Lê Kim”, bởi suốt từ nửa tháng 4 đến tuần đầu tháng 5, Lê Kim xuất hiện thường xuyên trên các phương tiện truyền thông đại chúng. Nào là trả lời phỏng vấn báo chí, nào nhân chứng -sự kiện, nào là giao lưu truyền hình, nào là đọc thơ kể chuyện... Cũng có người thắc mắc: “Mấy ông nhà báo, nhà đài sao mà “lăng -xê” ông Lê Kim lắm thế?”. Trong cuộc gặp mặt các cựu phóng viên Báo Quân đội nhân dân Ngày báo chí cách mạng Việt Nam (21-6) năm ấy, bác Lê Kim phân trần với cái giọng tưng tửng: “Khổ lắm, tôi nào có thích lên đài, lên báo nhiều đâu. Nhưng mà người ta cứ mời tôi, vì thứ nhất là tôi đẹp trai, thứ hai là tôi kể thật, thứ ba là tôi... có duyên vui đùa...”.
 |
|
Đại tá, nhà thơ, nhà báo Lê Kim
|
Về những điều trên đây thì kể cả mấy ông bạn cố chấp nhất cũng phải thừa nhận Lê Kim nói đúng! “Đẹp trai” thì cứ nhìn chân dung ông lão sắp sửa bát tuần năm ấy là đủ hình dung thời trai trẻ của chàng trai Kinh Bắc tài hoa như thế nào. “Kể thật” thì ông là người trong cuộc, làm Trung đội trưởng Tuyên truyền vũ trang Trung đoàn Bắc Bắc từ mùa hè năm 1946, tham gia hầu hết các chiến dịch lớn, làm cán bộ tuyên huấn kiêm “nhà báo trung đoàn” suốt chiến dịch Điện Biên Phủ... thì những chuyện kháng chiến của ông là mắt thấy tai nghe trăm phần trăm. Còn “có duyên vui đùa” thì cứ đọc thơ ông khắc rõ. Ngay từ lúc còn là học sinh Trường Tiểu học Hàn Thuyên của tỉnh Bắc Ninh, nhân sự kiện Nhật đảo chính Pháp tháng 3-1945, cậu học trò Nguyễn Duy Long -tên thật của Lê Kim đã có bài thơ đăng trên tờ nội san “Đoàn kết” của nhà trường do cậu làm chủ bút:
Một cú đề -pa nổ cái “đoành”
Tiền đồ mẫu quốc đến hồi phanh!
Àúâ-gôn thật ức, đờ-cu nhé!
Đại Pháp ai ngờ... đại bại nhanh!
Nhờ chút vốn liếng kinh nghiệm làm nội san “Đoàn Kết” mà sau này vào bộ đội, được cử làm Trung đội trưởng trung đội tuyên truyền vũ trang, rồi chuyển lên làm báo Liên khu Việt Bắc. Tại đây, ông được tiếp xúc và làm việc với nhiều văn nghệ sĩ nổi tiếng mà lâu nay chỉ “văn kỳ thanh bất kiến kỳ hình”, như: Vân Đài, Hoàng Lộc, Đông Hoài, Đỗ Nhuận, Nhị Ca... Nhờ đó, thơ kháng chiến của ông càng bay bổng và tăng thêm chất “thép”:
Một đoàn chiến sĩ rừng sâu
Đang run cầm cập với nhau trên sàn
Chợt nghe có lệnh tiến quân
Cơn sốt biến mất, “thưa anh khỏi rồi”!
Kẻ được ra trận reo cười
Người phải ở lại, tái hồi cơn... run!
Hành quân qua đèo dốc, ông làm thơ cho bộ đội hò hát để quên mệt nhọc: Đố ai biết Vệ mấy chân/Càng đi chiến dịch lại càng dẻo dai /Đố ai biết Vệ mấy vai?/ Càng mang vác nặng, càng say bước đều... Gặp đoàn dân công hỏa tuyến, ông nảy ngay mấy câu hò khiến các cô cứ đấm lưng nhau thùm thụp, quên hết mọi gian lao vất vả: Bộ đội mà gặp dân công / Như cá gặp nước, như rồng gặp mây /Bộ đội mà gặp giặc Tây / Như mèo gặp chuột, như chày gặp cua...
Phải là người trực tiếp tham gia hành quân với bộ đội và điều quan trọng hơn, phải là anh Vệ quốc quân thì mới có được tinh thần lạc quan vui nhộn trong gian lao vất vả như thế này: Lên đèo rồi lại xuống đèo /Đường đi ai vắt cheo leo giữa trời /Đèo Bụt mà cũng khướt người /Nói gì đèo Chuỗi mấy hồi dằng dai /Trời nực, đèo ghếch sừng nai /Leo được nửa quãng, hơi tai phì phò /Trời mưa đèo chảy mỡ bò /ếch chẳng muốn vồ cũng ngã lăn queo /Chênh vênh đá nhọn tai mèo /Lên đèo mỏi gối, xuống đèo chân run...
Những bài thơ trên đây Lê Kim viết vội trong sổ tay, trên các loại giấy tận dụng và đa số là được... xuất bản miệng phục vụ bộ đội, dân công trước khi đăng báo. Sau chuyến công tác tham gia chiến dịch Đông Bắc năm 1948 trở về, ông mang cuốn sổ chép thơ trên đây “nộp quyển” cho tòa soạn, như một bản báo cáo thành tích công tác, rồi lại theo bộ đội đi chiến dịch. ở cơ quan, chị Vân Đài đã đọc hết tập thơ rồi cho in thành tập với cái tên “Đời cứ tươi”, theo tên một bài thơ của Lê Kim trong tập. Vài tháng sau, tình cờ Lê Kim đọc được tập thơ của mình phân phát trên mặt trận. Tiếp đó là bài phê bình của nhà thơ Xuân Diệu về tập thơ này đăng trên Tạp chí Văn nghệ của Hội Liên hiệp VHNT Việt Nam, số tháng 6-1949. Trong bài viết, Xuân Diệu khen: “Thơ chưa hẳn đẹp nhưng có duyên lắm. Chỉ cần một cái duyên đó cũng đủ khiến Lê Kim trở thành nhà thơ...”. Lúc đó Lê Kim mới 23 tuổi, chức vụ Chính trị viên phó tiểu đoàn, cấp bậc “Cán bộ tiểu đoàn bậc phó” và đây là tập thơ đầu tay của ông.
Trong chiến dịch Điện Biên Phủ, ngoài nhiệm vụ cán bộ tuyên huấn Trung đoàn 36 (Trung đoàn Bắc Bắc), tham gia viết báo, làm thơ xuất bản ngay trong chiến hào mặt trận, thỉnh thoảng ông còn được làm nhiệm vụ phiên dịch cho tù binh. Hồi ấy, mỗi khi bắt được tù binh, Trung đoàn trưởng Phạm Hồng Sơn lại cho gọi Lê Kim lên làm phiên dịch cho ông hỏi cung, mặc dù ông Sơn là Cử nhân Luật trường Tây hẳn hoi. Nhờ những cuộc hỏi cung này mà Lê Kim biết thêm nhiều chuyện, thấy được bản chất bạc nhược và tâm trạng của bọn xâm lược. ông lại làm thơ đăng báo “Quyết Thắng” của Trung đoàn: Điện Biên Phủ bị ta vây chặt /Các thứ Tây đều mất tinh thần /Có thằng trách phận than thân /Điện Biên Phủ biến thành âm phủ rồi... Và: Lũ Tây chết dở hơi lòng /Nhét “bùa hộ mệnh” sẵn trong túi quần /Chực ta đánh là nhanh chân chạy / Giơ tay hàng trình mảnh bùa ra /Rằng tôi là quỷ là ma /ở điện âm phủ xin ra hàng người...
Và đây nữa là bài thơ kể về nỗi sợ hãi của quân địch khi đêm đêm nằm nghe tiếng đào hào lấn dũi của bộ đội ta, nhân nghe lời khai của một tù binh: “Đêm đêm tiếng đào hào thình thịch ngỡ như tiếng đào huyệt. Ban ngày thấy những vòng hào thít chặt cứ điểm như cái thòng lọng thít cổ...”: Tiếng cuốc đào hào vang lạch cạch /Lính Tây nghe tim nẩy tanh tách /Đêm mơ hố huyệt tối om om /Ngày thấy thòng lọng đỏ quành quạch /Phản kích vấp mìn chạy tóe loe /Xung phong trúng đạn giãy đành đạch /Súng ta bắn tỉa nổ đì đòm /Tấy hết nho nhoe, hết nhóc nhách...
Những bài thơ ông viết trong chiến hào Điện Biên Phủ sau đó được tập hợp in thành tập thơ thứ hai của ông, lấy luôn cái tên “Điện Biên Phủ”. Với vốn liếng thơ văn ấy, năm 1957 ông được mời tham gia Đại hội thành lập Hội Nhà văn Việt Nam, trở thành một trong những hội viên đầu tiên của Hội văn chương sang trọng bậc nhất này, cùng với Nhị Ca, người đồng nghiệp ở Báo Liên Khu Việt Bắc ngày trước. Thơ văn của ông từng được truyền tụng khắp các mặt trận thời kháng chiến chống Pháp, sau này có bài được đưa vào sách giáo khoa phổ thông. Nhưng có một bài thơ rất đặc biệt đối với ông. Đó là chiến dịch Biên Giới năm 1950, Lê Kim theo bộ đội lên tham gia trận đánh ở Trạm Thản -Chân Mộng. Sau chiến thắng này, ông được theo đoàn chiến sĩ có thành tích xuất sắc về chiến khu gặp Bác Hồ. Bữa đó có cả nhà thơ Tố Hữu và nhà thơ Tú Mỡ cùng dự, Lê Kim được đọc 2 bài thơ tự chọn cho Bác Hồ nghe. ông chọn bài thơ mới nhất về trận Trạm Thản, có tên là ‘Kế hoạch Lo -ren”:
Tây thua Tây Bắc, Tây lo
Đọc ra kế hoạch tên là Lo -ren
Tiến quân thì những lo phiền
Lui quân thất bại lại rên như bò
Âu-li-na-rét chạy co
Phát sốt, phát rét, mặt mo càng “đờ”...
Bác Hồ nghe, khen ông khéo chơi chữ tây nghĩa ta, làm thơ để tuyên truyền, động viên bộ đội như thế là rất tốt. Đồng chí Tố Hữu bảo liên lạc dẫn ông mang bài này cùng với bài “Giữ nghiêm kỷ luật” sang Tạp chí Văn nghệ của Hội Liên hiệp văn học nghệ thuật để in. Tại đây, lần đầu tiên ông được gặp Xuân Diệu. ông hoàng thơ tình khen những bài thơ trào phúng của Lê Kim và khuyên ông nên phát huy sở trường này để phục vụ kháng chiến. Từ đó ông đeo đẳng thể loại thơ “vui cười” này suốt nghiệp văn chương... Đến nay, gia tài văn chương của ông đã lên tới trên chục đầu sách: Tập thơ “Đời cứ tươi” xuất bản năm 1948 và tập thơ “Điện Biên phủ” xuất bản năm 1954. Sau này ông có thêm: Tập thơ đả kích “Mỹ ngụy thảm bại khúc” xuất bản năm 1971, tập tấu vui “Anh Đại Thắng, chị Hòa Bình” xuất bản năm 1973, tập thơ “Thơ và tình” xuất bản năm 1998... Ngoài ra ông còn có nhiều tập tiểu phẩm, truyện dài, như: “Mỹ thế đấy!” (1973), “Khoa học... bịp” (1978), “Cuộc hành quân thần tốc” (1985), “Tướng Mỹ bại trận” (1990), Điện Biên Phủ nhìn từ hai phía” (1994)... và nhiều sách dịch khác.
Năm 1955, Lê Kim về Báo Quân đội nhân dân làm phóng viên thời sự quốc tế. Năm 1992 nghỉ hưu, ông lại chuyển sang làm Báo Cựu chiến Binh Việt Nam hơn chục năm nữa, đến năm 2005 mới nghỉ hẳn. Nhưng từ đây ông lại nhận lời làm cộng tác viên “ruột” cho Tạp chí Lịch sử quân sự Việt Nam, mỗi tháng viết một bài. ông tâm sự: Trong cuộc đời làm báo, gian khổ thì nhiều, nhưng khó nhất là viết cho Tạp chí Lịch sử quân sự Việt Nam, vì đòi hỏi phải khoa học, chính xác. Mà cái tính của ông, đến già rồi vẫn cứ thích vô tư vui đùa...
Bài và ảnh: Mai Nam