Sáng tác
Trong tiết thanh minh
QĐND - Thứ Tư, 22/06/2011, 14:15 (GMT+7)

QĐND - Sau trận bom phát quang của địch, rừng săng lẻ ngổn ngang cây đổ. Những thân cây còn trụ lại được cũng trơ trụi lá cành; nhọn hoắt như các mũi chông đen đúa, đâm lên bầu trời xám xịt. Đó đây, lửa khói mù mịt, khét lẹt. Khu rừng trở thành hoang sơ, tàn lụi...

Từ các hầm trú nửa nổi, nửa chìm, đoàn khách khoảng 10 người, có cả bộ đội và cán bộ dân chính, bước lên, chuẩn bị tiếp tục hành quân. Đứng trên một tảng đá vuông vắn, cạnh bờ suối, đồng chí trạm trưởng nhìn mọi người, dặn dò:

- Bây giờ, các đồng chí phải đi gấp. Đoàn sẽ vượt qua bãi bom tọa độ; có thể còn bom nổ chậm và bom bi. Trạm sẽ cử đồng chí Nhân Mùi, một nữ giao liên có kinh nghiệm, dẫn đoàn đi...

Từ trong trạm đi ra, Nhân Mùi gật đầu chào đồng đội. Đó là một cô gái trên dưới 20 tuổi, người dong dỏng cao, có gương mặt trái xoan, đôi mắt long lanh, sắc sảo, thông minh. Cô thân mật yêu cầu:

- Ta chuẩn bị hành quân. Mỗi người đi cách nhau năm mét, bám sát đội hình. Nếu gặp địch phục kích, tôi ra hiệu, đánh lạc hướng; các đồng chí sẽ lùi lại phía sau để bảo toàn lực lượng.

Nói xong, Nhân Mùi thoăn thoắt bước đi. Tất cả âm thầm, lặng lẽ. Thỉnh thoảng mới có tiếng chim dáo dác gọi bầy. Đường hành quân gồ ghề đất đá, chỗ thấp chỗ cao; nhiều đoạn không còn là đường. Đi được gần 10km, bỗng Nhân Mùi đứng sững lại, hô to:

- Có máy bay địch! Tất cả nằm xuống! Lăn tới các hố bom gần nhất!

Tiếng máy bay phản lực rít trên đầu như muốn xé rách màng tai. Tiếp theo là từng loạt bom ầm ầm dội xuống. May mà không ai việc gì. Sau ba loạt bom ấy, đoàn người lại tiếp tục lên đường. Đến một hang núi rộng, có thể chứa được một đại đội, Nhân Mùi yêu cầu đoàn dừng lại nghỉ chân, ăn uống.

Vừa ăn bữa cơm đạm bạc, mọi người vừa giao lưu với cô dẫn đường xinh đẹp. Trong đoàn, người trẻ nhất, tương xứng với hình thức và tuổi tác của Nhân Mùi là Thiếu úy Bùi Chấn Linh; quê xã Giao Xuân, huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định. Anh đã tốt nghiệp Trường sĩ quan Lục quân 1.

Qua trò chuyện, anh em trong đoàn được biết, Nhân Mùi quê ở thị trấn Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh, nơi có ngã ba Lạc Thiện, ngã ba Trỗ và cầu Đò Trui, bị máy bay giặc Mỹ liên tục bắn phá ngày đêm. Đặc biệt, miền quê ấy còn có dòng sông La uốn lượn, ôm ấp xóm làng; dòng sông của thơ ca, nhạc họa với bài “Người con gái sông La” của nhạc sĩ Doãn Nho. Cha Nhân Mùi là bộ đội chống Mỹ, đã hy sinh trong chiến dịch Mậu Thân năm 1968; còn lại mẹ và chị gái đã đi lấy chồng xa. Sau khi tốt nghiệp cấp hai, Nhân Mùi nằn nì xin mẹ, tình nguyện đi thanh niên xung phong chống Mỹ. Thương con, bà mẹ gạt nước mắt, tiễn con lên đường...

Thời gian nghỉ ngơi thật bổ ích. Đoàn tiếp tục hành quân. Mỗi người đều chuẩn bị cho mình một chiếc gậy chống để leo dốc. Sương đêm lộp độp rơi trên mũ. Đường lên dốc dựng đứng. Ánh trăng non lấp lóa trải ánh sáng xanh. Thứ tự từng người, một tay chống gậy, một tay vít cành cây, đu lên phía trước. Những cây non và cành nhỏ hai bên đường dốc đều bị uốn cong như cánh cung, nhẵn bóng bởi có nhiều bàn tay người qua đây vịn vào.

Hết đoạn leo dốc, đoàn người chuyển sang đi đường bằng. Nhân Mùi dừng lại chấn chỉnh đội hình và yêu cầu giữ đúng cự ly như cũ. Người đi sau cô là Chấn Linh, chỉ cách nhau ba, bốn mét. Vừa đi anh vừa nói đùa:

- Cuộc hành quân này, tôi là chiến sĩ, được vinh dự đi bảo vệ “Thủ trưởng” Nhân Mùi.

Tự nhiên Nhân Mùi đi chậm lại. Mũi cô khịt khịt mấy cái. Qua hai năm làm nhiệm vụ này, kinh nghiệm cho chiến sĩ giao liên thấy, có mùi thuốc lá “Quân tiếp vụ” của địch. Lập tức, Nhân Mùi ra hiệu cho đoàn lùi lại tìm nơi ẩn náu. Nhanh như mũi tên, cô chạy tạt sang hướng khác, đánh lạc hướng kẻ thù. Quả nhiên, chúng bắn như vãi đạn AR-15 về phía đó và có năm, sáu tên lính đuổi theo. Đang núp sau bụi cây lúp xúp, trước cảnh ấy, Chấn Linh không chịu nổi, liền vùng dậy, lăm lăm khẩu AK đã lên đạn. Anh xiết cò, rê cả băng đạn AK chính xác vào mục tiêu và ném thêm một quả lựu đạn. Bọn địch kêu rống lên, đứa chết, đứa bị thương, lê lết chạy tán loạn vào rừng.

Chấn Linh xách súng lo lắng chạy đi tìm Nhân Mùi. Vừa đi anh vừa gọi tên cô. Và anh phát hiện thấy Nhân Mùi bị ngất xỉu cạnh gốc cây săng lẻ. Chấn Linh chạy tới vừa lay gọi vừa tháo túi băng cá nhân và áo lót, băng bó, làm ga rô cầm máu cho đồng đội. Cô bị bọn thám báo bắn bị thương vào thắt lưng và chân phải, máu ra nhiều, chạy đến đây thì kiệt sức.

Trước khi đi vào chiến trường, Chấn Linh được trang bị tương đối đầy đủ thuốc men và đồ dùng cá nhân. Anh lấy ống thuốc hồi sinh tiêm một mũi vào tay Nhân Mùi và cho uống dăm viên B12. Lát sau, cô đã tỉnh lại và điều đầu tiên, hỏi các đồng chí trong đoàn có sao không? Chấn Linh báo tin: Bọn địch đã bị tiêu diệt gần hết và bỏ chạy. Đoàn vẫn an toàn. Sau một phút lưỡng lự, anh khẩn khoản:

- Nhân Mùi đừng ngại. Tôi sẽ cõng em cùng đoàn tiếp tục hành quân... Em chỉ đường, tôi đi đầu thực hiện. Vậy nhé!

Không đợi trả lời, Chấn Linh mạnh dạn ghé vai cõng đồng đội; một tay xách hai khẩu súng, tay kia đỡ vết thương trên lưng Nhân Mùi. Lúc đầu, bước đi còn loạng choạng, sau đó, anh chạy băng băng về phía tuyến đường hành quân. Một thành viên trong đoàn, anh Hứa Kiểm, giúp cô giao liên mang súng đạn và đồ dùng cá nhân. Còn Chấn Linh “đặc trách” chăm sóc Nhân Mùi và nghe theo sự chỉ dẫn của cô trên đường đi. Trong đời người chiến sĩ, đây cũng là một kỷ niệm khó quên đối với anh. Trên lưng mình, nóng hổi hơi thở của người con gái đang thì xuân sắc.

Vừa đi anh vừa kể chuyện quê hương, gia đình, bè bạn của mình cho Nhân Mùi nghe. Còn cô vẫn tỉnh táo nhận ra đường ngang, lối tắt để dẫn đoàn đi mau tới đích. Hai người hứa hẹn, khi chia tay về đơn vị, sẽ thường xuyên thư từ cho nhau; và đến ngày chiến thắng, nhất định sẽ cùng về thăm quê ở Hà Tĩnh và Nam Định. Chấn Linh thầm nghĩ, trong cuộc chiến đấu ác liệt này, trừ khi phải hy sinh, còn sống sẽ cố gắng, thực hiện được ước mong chính đáng ấy.

Chỉ còn vài tiếng đồng hồ nữa là đến nơi tập kết. Nhân Mùi sẽ được điều trị vết thương tại trạm xá tiền phương. Còn đoàn hành quân thì chia tay nhau, mỗi người mỗi ngả, đi làm nhiệm vụ. Với cô, hai năm qua, hàng mấy chục chuyến giao liên đã hoàn thành xuất sắc công việc. Và mỗi lần hành quân xuyên rừng, vượt đèo, leo dốc, dưới làn bom đạn của kẻ thù, đều để lại những kỷ niệm khó quên. Nhưng lần này thật đặc biệt. Người được dẫn đường đã trở thành ân nhân, cứu mạng Nhân Mùi và còn trực tiếp giúp cô làm nhiệm vụ giao liên. Lời nói, việc làm của Chấn Linh, tự nhiên như cuộc sống vốn có của người chiến sĩ, không chần chừ, so đo, suy tính; đã gây được ấn tượng tốt đẹp trong tâm hồn cô gái trẻ giao liên. Sau chuyến đi này, Nhân Mùi hy vọng sẽ mãi mãi được là người đồng chí, đồng đội của anh; và biết đâu, quan hệ có thể phát triển hơn thế nữa... Giá như anh được lui lại mấy hôm để động viên, chăm sóc Nhân Mùi cho bình phục hẳn thì tốt. Song chắc không được, bởi lẽ chiến trường đang yêu cầu gấp lắm...

Một cánh rừng, rồi lại một cánh rừng nữa tiếp theo. Hai người dẫn đầu đoàn hành quân, đang suy nghĩ miên man về tình chung, nghĩa riêng. Thời gian gặp gỡ, tiếp xúc và giúp nhau công tác tuy ngắn nhưng tình người thì dài và sâu sắc. Nhân Mùi, Chấn Linh đều có chung ý nghĩ như vậy. Và để động viên người đang giúp mình lo tròn nhiệm vụ, cô mượn câu hát trong bài “Hò kéo pháo” của nhạc sĩ Hoàng Vân, khe khẽ hát: “Sắp tới đích rồi, đồng chí Chấn Linh ơi!...”. Nghe xong cả hai cùng cười. Nhưng qua thực tế, càng gần tới nơi tập kết càng không được chủ quan khinh địch. Quả vậy, Nhân Mùi như nín thở lắng nghe. Có tiếng máy bay từ xa vọng lại. Cô bảo Chấn Linh hô to lên, báo hiệu có máy bay địch; mọi người khẩn trương nằm xuống và lăn tới các hố bom. Nhân Mùi còn khẩn khoản bảo anh đặt mình xuống đất, tự thân chạy nhanh về hố bom phía sau. Lại một lần nữa, Chấn Linh cưỡng lệnh. Anh vẫn cõng đồng đội trên lưng, lao đi tìm chỗ tránh bom. Nhưng chậm mất rồi! Loạt bom nổ rất gần. Trong tích tắc, Chấn Linh nằm đè lên lưng Nhân Mùi, che vết thương cho cô. Loạt bom thứ hai tiếp tục nổ. Nhiều mảnh bom văng vào đầu, vào cổ và toàn thân của anh. Chấn Linh ngã vật ra, ngất xỉu. Máu chảy đầm đìa thành vũng. Nhân Mùi kêu khóc, gọi đồng đội lại băng bó cho anh. Cô ôm đầu Chấn Linh trên cánh tay của mình, tha thiết gọi:

- Anh ơi, anh đừng bỏ em, bỏ đồng đội. Trong chuyến đi này, đã hai lần anh cứu em thoát chết.

Nhân Mùi khóc nấc lên lay gọi đồng đội. Chấn Linh từ từ mở mắt nhìn mọi người và nói trong hơi thở yếu ớt với cô:

- Anh không thể sống được nữa... Mong đoàn về tới đích an toàn... Nhờ em thay anh về thăm Hà Tĩnh, Nam Định... Anh... yêu... em!

- Anh không thể chết! Anh Chấn Linh! Anh là ân nhân của em!...

Nhân Mùi cúi xuống hôn lên đôi môi của người yêu. Nụ hôn thấm đẫm máu và nước mắt... Chấn Linh đã vĩnh biệt đồng đội. Mọi người quyết định đưa thi hài của anh về làm lễ an táng tại vị trí tập kết. Hứa Kiểm hỗ trợ Nhân Mùi đi nốt đoạn đường còn lại. Vừa đi cô vừa xót xa nghĩ tới chặng đường máu lửa đã qua; có ngờ đâu, cuối đường hành quân lại là đoạn đường đưa tang đồng đội. Lễ an táng Chấn Linh được tổ chức trọng thể theo nghi thức quân đội tại chiến tường. Nhân Mùi xin nhận là người yêu của liệt sĩ. Cô chít khăn tang, khóc than thảm thiết bên nấm mộ mới đắp ở góc rừng. Nhân Mùi hứa với hương hồn người đã khuất, dù trong hoàn cảnh nào cũng thờ phụng anh suốt đời. Bởi lẽ, Chấn Linh là người yêu đầu đời, là ân nhân cứu mạng, là cán bộ quân đội dũng cảm, sống chết vì đồng đội, vì cô, trong lúc gian nguy nhất.

Thời gian qua đi, lòng dặn lòng, Nhân Mùi đã thực hiện hơn cả lời hứa. Sau chiến thắng 30-4-1975, cô chít khăn tang, về ngay xã Giao Xuân, Giao Thủy, tỉnh Nam Định, thăm gia đình Chấn Linh. Cô thắp hương, trông lên di ảnh người yêu, vừa vái lạy vừa khóc. Nhân Mùi thuật lại sự dũng cảm hy sinh vì đồng đội của anh và xin mọi người nhận cô là con trong gia đình; được thường xuyên đi lại thăm hỏi. Bố Chấn Linh đã mất; chỉ còn lại mẹ Thuần cùng hai em, một trai, một gái là Thành và Mận, đã phương trưởng. Bà mẹ liệt sĩ ôm lấy Nhân Mùi mà khóc. Bà cám ơn cô đã cho gia đình biết những ngày cuối cùng của Chấn Linh và vinh hạnh được nhận Nhân Mùi là con cái trong nhà.

Từ ấy, cô coi Nam Định là quê hương thứ hai của mình. Mẹ Thuần giục giã, đứng ra vun vén để Nhân Mùi xây dựng gia đình với anh Cao Đức, thương binh chống Mỹ, quê huyện Giao Thủy. Đúng ba năm sau, xong tang Chấn Linh, cô mới lên xe hoa về nhà chồng. Trước đó, Nhân Mùi yêu cầu với chồng chưa cưới: Cô xin phép được lập bàn thờ, thờ người yêu là liệt sĩ tại gia đình. Và sau đó, nhờ anh giúp cô, đưa hài cốt Chấn Linh về quê hương.

Là thương binh, từng vào sinh ra tử với đồng đội trong cuộc chiến đấu chống giặc, cứu nước, Cao Đức hoàn toàn thông cảm và nhất trí, đáp ứng yêu cầu của vợ. Giờ đây, Chấn Linh đã được mồ yên mả đẹp ở Nghĩa trang liệt sĩ xã Giao Xuân, nơi chôn nhau cắt rốn của anh. Trong tiết thanh minh tháng ba hằng năm, trời trong xanh, ngoài kia, sóng biển Giao Thủy cũng trong xanh, chứng kiến tấm lòng thủy chung, tình nghĩa của Nhân Mùi, Cao Đức và hai con nhỏ đang đứng trước nấm mộ Chấn Linh đầy hương hoa thơm ngát.

Truyện ký của Chi Phan
Họ và tên:
Email:
Tiêu đề:
Mã xác nhận:

Nội dung
Gõ tiếng việt :    Off   Telex   VNI   VIQR
Các tin khác