QĐND - Sư đoàn 7 thuộc Quân đoàn 4 của chúng tôi hành quân từ Bảo Lộc về ém quân trong một rừng chuối mênh mông, chuẩn bị tấn công vào căn cứ Xuân Lộc, cửa ngõ Đông Bắc Sài Gòn, đúng đêm 1-4-1975. Sư trưởng Nam Phong lệnh không được chặt chuối của dân. Rừng chuối Xuân Lộc rộng đến nỗi có đường ô tô ngang dọc đi thu hoạch. Mấy anh em “làm báo” của sư đoàn như Phùng Khắc Bắc, Dương Huy và tôi được điều về hầm chỉ huy Sư đoàn bộ để hằng ngày nghe thông tin từ các mũi.
Anh Phùng Khắc Bắc vào B2 từ đầu năm 1967, ở khu 6. Trông anh gầy và đen như gỗ lũa, chỉ đôi mắt là long lanh sáng. Anh làm ở Ban Tuyên huấn Sư đoàn, chuyên trách “Bản tin”. Cuối năm 1973, anh Bắc đưa Đoàn “văn công Sư đoàn” về biểu diễn tại cứ Đồng Xoài của tiểu đoàn tôi. Biết tôi có bài thơ “Bài ca chốt chặn” viết về những ngày thực hiện Hiệp định Pa -ri ở Đường 14, anh Đại, chính trị viên đại đội, bảo tôi lên “ngâm” trong buổi diễn của “văn công”. Tôi không ngâm mà đọc. Anh Phùng Khắc Bắc đến hỏi tôi làm được nhiều thơ không, có viết báo được không? Tôi bảo tôi viết báo từ hồi nhỏ học cấp 2 ở làng, còn thơ thì mới viết. Anh bảo anh chưa bao giờ làm thơ, chỉ viết ít truyện ký và báo. Sau chuyến đi ấy, anh về đề nghị điều tôi lên phòng chính trị để làm bản tin.
 |
|
Tổ biên tập bản tin Sư đoàn 7- đầu năm 1975 (nhà thơ Ngô Minh ngồi ngoài cùng, bên phải).
|
Ở miền Đông Nam Bộ, mỗi lần tác chiến, công binh của sư đoàn đều đào những căn hầm chỉ huy rất chắc chắn. Hầm lát gỗ, đắp đất rất dày, rộng hơn chục mét vuông. Trong hầm có bàn ghế đủ cho vài chục người ngồi họp, có bố trí điện đàm tăng âm, nên chỉ huy có thể ngồi nói chuyện với các tiểu đoàn, trung đoàn ngoài mặt trận thoải mái như họp trong nhà. Đợt đánh Xuân Lộc này, anh em cùng nhau ở một chỗ nên rất vui. Đêm đầu tiên đánh cứ điểm Xuân Lộc, bộ đội ta mấy lần ôm bộc phá vào mở cửa, những địch bắn rát quá, thương vong nhiều. Sư trưởng Nam Phong ra lệnh chỉ huy hết mũi tiến công này đến mũi tiến công khác. ông oang oang ra lệnh cho anh Đình, Chính trị viên Tiểu đoàn 2: Cái chốt bằng cái l.trâu ấy mà một ngày rồi các anh không ăn được à? Nội đêm nay phải ăn cho hết, nghe rõ chưa! Cái mệnh lệnh rất... Nam Phong ấy khiến mọi người trong hầm ôm bụng mà cười.
Đêm hôm sau, tôi được cử ra chỗ bộ đội Tiểu đoàn 2 để viết bài. Mật khẩu là “Sông Hồng”, đáp là “ Mê Kông”. Tôi đi một mình trong đêm trăng mờ giữa tháng 4. Bốn bề là rừng chuối và trảng cỏ khô! Tôi đang hoang mang tìm hướng đi thì nghe một tiếng quát “Sông Hồng”! Thế là tôi quên béng việc trả lời bằng mật khẩu, mà gọi toáng lên: Tôi là Khôi ở Ban Chính trị đến đây! Anh chiến sĩ từ bụi rậm chui ra cười bảo, em được lệnh đi đón nhà báo Sư đoàn từ tối tới giờ, đợi mãi. Tôi chui vào hầm tiền tiêu của Đại đội 7. Ba chiến sĩ ôm bộc phá lên đánh hàng rào bị thương, máu chảy nhiều, được băng bó tạm bằng băng cá nhân, đang nằm rên ở góc hầm. Mấy anh em khác lại đang hò hét đánh bài “tiến lên”, trông mặt mũi anh nào anh nấy điềm nhiên như chẳng có việc gì; chỉ một vài phút nữa thôi ba người trong số họ lại bò lên hàng rào đánh bộc phá, rồi có thể hy sinh và bị thương như đồng đội đang nằm kia! ở chiến trường, không điềm nhiên như thế không sống mà đánh giặc được!
Đêm 20-4, đường vô Sài Gòn bị chặt đứt ở Dầu Giây, Sư đoàn 18 của địch bỏ chạy khỏi Xuân Lộc. Tướng Lê Minh Đảo sư trưởng chạy về phía Vũng Tàu, bị quân ta bắt được. Sau này, đọc hồi ký của Thượng tướng Trần Văn Trà, tôi mới hay sáng kiến cắt đứt con đường từ Xuân Lộc nối Sài Gòn ở Dầu Giây là của một đồng chí trung đoàn trưởng trong cuộc họp giao ban ở Bộ chỉ huy Miền. Tại cuộc giao ban ấy, đồng chí trung đoàn trưởng đề nghị tướng Trần Văn Trà và Bộ chỉ huy Quân giải phóng điều ngay một trung đoàn cấp tốc hành quân đường vòng đánh chiếm căn cứ địch ở Dầu Giây thì Sư 18 của địch ở Xuân Lộc sẽ đầu hàng. Thượng tướng Trần Văn Trà làm như vậy và đã thành công.
Đơn vị tôi hành quân vòng qua thị xã thì đã quá nửa đêm, nên được lệnh nghỉ. Để bảo đảm bí mật, tất cả rờ rẫm mắc võng trong đêm. Nằm lắc lư trên võng, tôi nghe mùi hương quả chín thơm vào trong giấc ngủ. Sáng dậy, trời đất ơi, ngay trên đầu võng tôi, một trái sầu riêng trĩu xuống, thơm lừng. Tôi bật dậy, nâng trái sầu riêng lên mũi. Đó là lúc Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu đọc diễn văn từ chức trên Đài phát thanh Sài Gòn. Thế là ta thắng rồi! Trước mắt tôi, một rừng sầu riêng mênh mông, mùi trái chín thơm lừng. Nghe phía lộ, tiếng xe tăng, xe bọc thép và xe chở bộ đội của những binh đoàn quân giải phóng vẫn ầm ầm hành quân về hướng Sài Gòn. Tôi lần ra lộ, thấy hai bác nông dân đen nhẻm vác cuốc, như đang trên đường đi làm rẫy. Thấy tôi mặc quần áo quân giải phóng, các bác hồ hởi khoe: Xe tăng, xe pháo của ta nhiều đếm hổng xiết chú ơi! Những ngày đó đơn vị tôi đóng quân ở rừng cao su Xuân Lộc, học chính trị, điều lệnh dân vận mới để chuẩn bị vô Sài Gòn...
Sáng 30-4, Sư đoàn 7 của tôi được lệnh xuất kích đánh chiếm Sài Gòn ở hướng Đông -Bắc. Đơn vị tôi ngồi xe bọc thép, xe tải chở quân. Còn tôi làm báo nên được đi xe gắn máy Honda với cơ sở nội thành. Dọc đường, quân ngụy tan tác thành từng mảng, cởi bỏ súng đạn, quân trang, quân dụng... vứt ngổn ngang. Một giờ chiều chúng tôi vào tới Dinh Độc Lập. Sư đoàn 7 được lệnh quân quản quận 1. Đơn vị tôi tập kết ở sở thú. Các mẹ, các em Sài Gòn khoác khăn rằn, gánh tới những nồi cháo gà bốc khói thơm lựng. Các mẹ múc từng tô cháo đưa cho chúng tôi, rồi ngồi ngắm chúng tôi ăn như ngắm đàn con ở nhà. Tôi có cảm giác cháo gà ngon như cháo mẹ tôi nấu khi tôi còn nhỏ! Đó là bữa ăn đầu tiên của tôi trên đất Sài Gòn giải phóng!
Nhà thơ Ngô Minh