Kỷ vật kháng chiến
Ai biết liệt sĩ Thanh Phong?
QĐND - Thứ Ba, 22/05/2012, 20:15 (GMT+7)

QĐND - Trong chuyến trở lại Việt Nam tháng 4-2012, ông Lau-ren Uyn-đi-bâu-ơ (Laurens Wildeboer), cựu chiến binh người Ô-xtrây-li-a đã mang theo một số kỷ vật liệt sĩ của Quân giải phóng mà ông đã lưu giữ hơn 40 năm qua, kể từ ngày tham chiến tại chiến trường khu vực Đồng Nai, Bà Rịa - Vũng Tàu. Với sự hỗ trợ tích cực của Thượng tá Nguyễn Thị Tiến, nguyên Phó giám đốc Bảo tàng Quân khu 4, phần lớn các kỷ vật đều đã xác định được chủ nhân và làm thủ tục trao trả cho thân nhân, gia đình liệt sĩ. Duy nhất cuốn sổ tay thơ của một liệt sĩ có tên Thanh Phong hiện vẫn chưa tìm được thân nhân để làm thủ tục trao trả kỷ vật theo tâm nguyện của cựu binh Lau-ren Uyn-đi-bâu-ơ.

Những dòng thơ nghĩa khí và lãng mạn

Điều đặc biệt ở cuốn sổ tay có bìa màu đỏ, giấy kẻ ô vuông (giấy ca-rô) vẫn được giữ gìn gần như nguyên vẹn này là bên trong có nhiều bài thơ do liệt sĩ sáng tác. Có bài chỉ 4 câu, nhưng cũng có bài dài gần 2 trang giấy. Mỗi bài thơ thể hiện một tâm trạng, hướng đến một chủ đề, nhưng tất cả đều toát lên nghĩa khí, tinh thần yêu nước, quyết tâm chiến đấu và chiến thắng, tình yêu quê hương, đất nước, cha mẹ, người thân… của người viết. Trang đầu của cuốn sổ là hai câu thơ “Ta không như con thuyền chờ đợi/ Gió xuôi rồi buồm mới căng lên”, được viết nghiêng, phía trên hai chữ THANH PHONG đánh bóng khối, như là một lời tự bạch của tác giả. Theo Thượng tá Nguyễn Thị Tiến, chủ nhân cuốn sổ tên là Thanh Phong. Anh đã họa tên của mình bằng hai câu thơ, thể hiện nghĩa khí của một người chiến sĩ trước cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc.

Trong cuốn sổ có gần 20 bài thơ, sáng tác theo hai chủ đề chính: Viết về lý tưởng sống của thanh niên đi chiến đấu dưới ngọn cờ của Đảng và viết về đồng đội, tình yêu, quê hương, người thân.

Hai bài thơ tứ tuyệt “Đón Xuân” và “Xuân sang” viết ngay sau trang đầu, thời gian sáng tác là tháng 2-1966, có hình vẽ cành đào minh họa: “Bính Ngọ năm nay ăn Tết dọc đường/ Vui cùng đồng chí khắp bốn phương/ Chân cứng đá mềm băng ngàn dặm/ Đến xuân sau ăn Tết QUÊ HƯƠNG” (Đón Xuân) và “Bính Ngọ hoa xuân nở đầy cành/ Dạt dào phơi phới tuổi thanh xuân/ Đón xuân chan chứa niềm tin tưởng/ THỐNG NHẤT hòa bình em với anh” (Xuân sang). Hai cụm từ “QUÊ HƯƠNG”, “THỐNG NHẤT” được viết in hoa, nằm ở cuối hai bài thơ, thể hiện rõ lý tưởng, ước mơ, hoài bão của tác giả.

Một trang trong cuốn sổ tay kỷ vật của liệt sĩ Thanh Phong hiện đang được Thượng tá Nguyễn Thị Tiến cất giữ.

Trong bài thơ “Em tôi”, tác giả đã gọi người đồng chí của mình thân thương như tình ruột thịt. “Cậu bé ngày nào mới ngây thơ/ Mà hôm nay anh dũng đứng dưới cờ/ Má đỏ hây hây môi lạc sữa/ Đẹp mộng tương lai đẹp ước mơ…/ Nhìn nó tôi cười nó cũng cười/ Lá cờ trước gió đượm màu tươi/ Mang tên vinh dự anh giải phóng/ Đẹp lắm em ơi! Đẹp nhất đời”. Bài thơ “Hành quân” đề ngày sáng tác là 15-11-1965 với những câu thơ thật lãng mạn: “Ăn cơm măng nứa măng tre/ Võng đào một chiếc suối khe bạn cùng/ Vui lên ai cấm ta đừng/ Đường xa mà lại thấy gần không xa…”. Và ý chí hành động vì nghĩa lớn: “Đồng bào mỏi mắt chờ ta/ Chiến trường quyết chí xông pha diệt thù”.

Tình đồng chí giản dị, mộc mạc mà thấm đượm nghĩa tình, niềm tin son sắt vào ngày chiến thắng qua bài thơ “Gặp bạn”: “Tôi lại gặp anh giữa chốn này/ Chiến trường khói lửa mịt mù bay/ Biết nói gì hơn tình đồng chí/ Còn sướng chi bằng cái bắt tay/ Dừng lại phút giây rồi tạm biệt/ Hẹn ngày chiến thắng rợp cờ bay…”. Tình thương yêu cha mẹ, nỗi nhớ quê nhà gắn với lòng quyết tâm chiến đấu và chiến thắng: “Hôm nay nhớ mẹ nhớ cha/ Nhớ từ Đồng Tháp nhớ ra Hà Thành/ Xuân sang hoa nở đầy cành/ Cắm hoa đầu súng đứng canh đêm dài” (Nhớ).

Có những nỗi nhớ khó gọi tên với một cô gái làng chợt gặp trong chặng trú quân được viết trong bài thơ “Đừng quên”: “Tôi đi ngàn vạn nẻo đường/ Một chiều thu ấy tạm dừng quê em/ Xa rồi còn nhớ trong tim/ Con thuyền nho nhỏ trăng lên mái chèo…/ Qua đây chỉ có một ngày/ Tạm dừng một buổi mà đầy tình thương…/ Cô em đôi má ửng hồng/ Tiễn chân qua một cánh đồng làng bên/ Hẹn hò trong lúc trăng lên/ Các anh đã nhớ đừng quên đường này…”.

Gia đình, thân nhân liệt sĩ đang ở đâu?

Trong cuốn sổ tay có nhiều bài thơ được viết giống như nhật ký, mang tính tự sự, kể chuyện. Và đây chính là những dấu hiệu, bằng chứng để xác định quê quán, nhân thân liệt sĩ. Là người có kinh nghiệm trong việc xác định danh tính liệt sĩ thông qua kỷ vật, Thượng tá Nguyễn Thị Tiến đặc biệt chú ý đến những bài thơ này. Theo phân tích của chị Tiến, liệt sĩ Thanh Phong quê ở một tỉnh miền Bắc, có trình độ học vấn tương đối cao (có thể là sinh viên đại học hoặc là một cán bộ trẻ, xếp bút nghiên lên đường nhập ngũ).

Ông Lau-ren Uyn-đi-bâu-ơ, trao cho Thượng tá Nguyễn Thị Tiến cuốn sổ kỷ vật của liệt sĩ Thanh Phong.

Về thân nhân, gia đình của liệt sĩ Thanh Phong, bằng chứng được thể hiện rõ nhất trong bài thơ “Cô gái em tôi”, sáng tác ngày 20-10-1965. Nội dung bài thơ cho thấy, gia đình liệt sĩ neo người, bố mẹ đã già yếu. Liệt sĩ có người em gái tên Hường, lấy chồng là một đồng đội cũ của tác giả đã về phục viên: “Tôi có cô em tên gọi thị Hường/ Tóc mềm như liễu mắt như gương/ Năm nay cô nó tròn mười tám/ Lắm kẻ trai làng đã vấn vương.../ Thầy u tôi tuổi đã già rồi/ Tôi còn công tác ở nơi xa/ Ruộng vườn mai mốt mình cô nó/ Vốn thế u tôi quý nhất nhà/ Ai hỏi u tôi cũng nói rằng/ Thưa bà thưa bác hoặc thưa ông/ Cháu nó năm nay còn bé lắm/ Công việc nhà neo bận ruộng đồng…/ Ngày trước tôi có một người/ Trước cùng đơn vị vẫn quen tôi/ Phục viên năm ngoái về sản xuất/ Quyến luyến em tôi định ngỏ lời/ Trước kia em tôi đã mến thầm/ Thương người hiền hậu lại siêng năng/ Mỗi lần nhắc đến u tôi bảo/ Chả trách từng vào Vệ quốc quân…/ Chiều ấy em tôi quẩy mạ về/ Vuốt làn tóc mượt u tỉ tê/ Con là con gái vừa khôn lớn/ Có đám người ta định hỏi về/ Ý kiến thầy u được cả rồi/ Bây giờ còn đợi ý con thôi/ Nhà neo thôn xóm người ta giúp/ Theo ý em tôi thẹn thẹn cười/ Thực ra cô nó và anh ấy/ Đã hẹn hò nhau trước cả rồi”.

Liệt sĩ Thanh Phong để lại nhiều bài thơ về tình đồng chí, đồng đội, nhưng chỉ có bài “Tình đồng chí” nhắc đến tên một số đồng đội của liệt sĩ. Bài thơ có giá trị như một bài tường thuật về một trận chiến đấu, được viết tháng 2-1965. Tác giả đã nhắc đến một đồng đội tên Vị và cô y tá tên Kim Dung. Bài thơ kể về tình đồng chí trong một trận đánh, khi tác giả bị thương, đồng chí Vị đã giục chị Kim Dung nhanh chân đưa tác giả về phía sau, để mình nằm lại ngăn bước quân thù: “Vết thương quá nặng không đi được/ Vị cứ yêu cầu tha thiết cùng tôi/ Nhanh lên đi nhé chị Kim Dung ơi/ Tôi nằm lại ngăn đường trừ giặc Mỹ…”. Hình ảnh người nữ y tá cõng thương binh vượt qua lửa đạn, sình lầy, sông rạch trong hoàn cảnh gần như kiệt sức thật đẹp và cảm động: “Tình đồng chí là thiêng liêng cao cả/ Sống chết bên nhau đã hẹn thế rồi/ Y tá với thương binh chỉ một mà thôi/ Anh không thể chết khi tim tôi còn đập…/ Mặc cho giặc Mỹ điên cuồng nhả đạn/ Mặc cho sình lầy sông rạch cản ngăn/ Nâng anh lên tôi bước vững vàng/ Tuy lực kiệt nhưng quyết tâm không đổi…”. Khi đã đưa được người thương binh đến vị trí an toàn, cảm xúc và hình ảnh cô nữ y tá thật đẹp: “Tạm dừng lại bên rừng su xanh mát/ Đặt anh nằm trên chiếc võng đu đưa/ Gió nhẹ tung tăng đùa mái tóc dừa/ Anh nhìn tôi với cái nhìn trìu mến/ Chim trên cành cùng hòa vui rộn tiếng”.

Lời nhắn

Hành trình theo dấu Thanh Phong qua kỷ vật để tìm thân nhân, gia đình liệt sĩ đã được Thượng tá Nguyễn Thị Tiến thực hiện ngay sau khi tiếp nhận cuốn sổ tay từ cựu binh Lau-ren Uyn-đi-bâu-ơ. Chị Tiến đã liên lạc qua nhiều kênh thông tin nhưng gần một tháng nay vẫn chưa có kết quả. Nguyệt san Sự kiện và Nhân chứng trích đăng một cách đầy đủ nhất những thông tin về chủ nhân cuốn sổ tay kỷ vật được thể hiện qua các bài thơ, vừa là nghĩa cử tri ân liệt sĩ, vừa chia sẻ thông tin cùng bạn đọc với hy vọng sớm tìm được thân nhân liệt sĩ để trao trả cuốn sổ tay.

 Ai biết thêm thông tin về liệt sĩ có tên Thanh Phong hoặc có thông tin về những người xuất hiện trong các bài thơ như chúng tôi đã dẫn, xin liên hệ với Nguyệt san Sự kiện và Nhân chứng, Báo Quân đội nhân dân, số 7 Phan Đình Phùng, Hà Nội. Điện thoại: 04.37333598 hoặc 069554743. Email:skncbqd@gmail.com.

Bài và ảnh: PHAN TÙNG SƠN

Họ và tên:
Email:
Tiêu đề:
Mã xác nhận:

Nội dung
Gõ tiếng việt :    Off   Telex   VNI   VIQR
Các tin khác