Con người và cuộc sống
Cởi truồng đuổi giặc và chiếu chèo thời trận mạc
QĐND - Thứ Ba, 26/06/2012, 11:10 (GMT+7)

QĐND -
Sư bác tòng quân

Từ thanh niên đến tuổi “cổ lai hy”, dáng đi của anh Đỗ Tùng vẫn như gù gù, cái đầu hơi chúc xuống lao về phía trước, còn đôi tay thì lại văng quá đà ra phía sau. Có lẽ - theo như anh kể - thì từ bé anh đã ngồi xếp vòng tròn ôm gọn cái trống con và hai tay khuỳnh ra hai bên để tập đánh trống chèo theo nghiệp bố. Khi 6 tuổi, Đỗ Tùng đã “ôm” chũm chọe, đeo cái trống con theo cha đi diễn các tích chèo ở quê nhà làng Phú Nhi, xã Viễn Sơn (Ba Vì, Hà Nội) và khắp vùng Sơn Tây. Cũng theo lời kể của Đỗ Tùng thì bố ông thuộc rất nhiều tích chèo cổ, hát được các giọng chèo của xứ chèo Đông và xứ chèo Đoài.

Nói đến lịch sử của chèo Đông và chèo Đoài thì chỉ có người sành nghề mới hiểu được, còn nông cạn và nôm na thì ngón chèo Đông xuất xứ từ vùng châu thổ sông Hồng, còn chèo Đoài thì từ phía bên này sông Hồng, nhất là vùng Hà Tây cũ.

Từ năm lên 7 tuổi Đỗ Tùng đã có thể đánh trống “cầm trịch” cho các nam nữ nghệ nhân “đế trò” ở các sân đình, sân chùa dưới ánh trăng vằng vặc và người xem sẵn lòng cổ vũ gánh chèo cho tới lúc rạng đông.

Có làng mời “gánh chèo” diễn suốt cả tuần mà người xem vẫn không chớp mắt. Những tưởng Đỗ Tùng được theo học cha đến khi cha “hết vốn”, nhưng nào ngờ năm 9 tuổi, ông bố ngả bệnh qua đời. Nhà nghèo, cháo ngổ, cháo bầu… không đủ no, bà mẹ đành dắt Đỗ Tùng xin vào làm “chú tiểu” ở chùa Tổng (làng Mía).

Từ ngày “phát thệ” (cắt tóc cạo đầu), Đỗ Tùng được vị sư cụ cho ngày hai buổi chuyên ngồi học kinh và tấu mõ. Bài kinh “Di lặc” là bài cầu chúc cho linh hồn con người vượt qua mọi tội lỗi để lên Niết Bàn. Kinh “Dược sư” chuyên cầu nguyện cho chúng sinh an cư lạc nghiệp. Kinh “Vô thương” khuyên con người không nên tham, kể cả tham tình ái. Bài kinh “Pháp hoa” phải tụng 7 ngày mới hết! Thời gian “đi tu” đã giúp Đỗ Tùng thêm vốn hiểu biết về chữ Hán và chữ Nôm. Cái được lớn nữa là những năm ở chùa, tuy tuổi còn trẻ nhưng Đỗ Tùng đã lấy chữ “Nhẫn” làm phương châm sống cho cả cuộc đời sau này.

Trung tá Đỗ Tùng.

Cái chữ “Nhẫn” hình như là duyên kiếp, là số phận của anh. Ngay từ năm 1946, lúc mới bước sang tuổi 16, Đỗ Tùng xung phong tòng quân vào Trung đoàn 66, thuộc Liên khu 3 và được biên chế về tổ trinh sát của Trung đoàn do đồng chí Phùng Thế Tài làm Trung đoàn trưởng. Nhưng vì chưa đủ tuổi là quân nhân nên Đỗ Tùng không có tiêu chuẩn lương thực, buộc Trung đoàn trưởng phải “gửi sang ăn chực” bên Trung đội cảnh vệ, vì tổ trinh sát chỉ có mấy người, suất ăn còn đói, lấy đâu ra cơm mà “nuôi” Đỗ Tùng?

Cuối năm 1947, Đỗ Tùng được bổ sung sang Đại đội 834, Tiểu đoàn 108 thuộc Trung đoàn 148, cắt đứt quân số với Trung đoàn 66 và cũng có nghĩa rằng từ nay anh là một quân nhân hẳn hoi! Đại đội 834 là đơn vị võ trang tuyên truyền, luồn sâu vào hậu địch vùng Mộc Châu, Yên Châu (Sơn La)… phối hợp với các đội du kích địa phương tuyên truyền giác ngộ quần chúng, gây dựng cơ sở, trừng trị những tên Việt gian ác ôn, phá chính quyền của địch, lôi kéo những người lừng chừng đứng về phía ta. Trung đoàn bộ thì ở cách xa hàng trăm cây số, vậy thì tiêu chuẩn lương thực lại nhờ “thiên nhiên cấp phát”! Củ nâu, củ bấu, củ măng, quả vả, quả ổi, quả bưởi rừng, bắp ngô, bông lúa của chim thú trồng (đánh rơi hạt) là nguồn sống chính. Thiếu muối thì đốt cỏ gianh, đốt nứa lấy than ăn tạm, ớt xanh luộc chấm với ớt chín là thứ muối phổ thông của các đội vũ trang xung phong. Còn “ống muối” to bằng cái bút lông, đích thực là tiêu chuẩn do Trung đoàn cấp phát, thì chỉ khi nào ốm quá mới dám nhấm vài hạt để lấy sức!

Chữ “Nhẫn” lúc này lại là nguồn nghị lực phi thường, giúp Đỗ Tùng chiến thắng cả sự yếu đuối của bản thân, và ngày 2-1-1948 anh được chi bộ Đại đội 834 kết nạp vào Đảng tại huyện Mộc Châu.

Thực hiện lời thầm hứa, khi đánh đồn Tô Vũ, đảng viên Đỗ Tùng được giao cắm lá cờ lệnh lên đỉnh lô cốt và anh đã hoàn thành xuất sắc, được Trung đoàn cấp bằng khen.

Tài hát chèo và đánh trống chèo thì cả Tiểu đoàn 108 ai cũng biết, nay lại hoàn thành nhiệm vụ cắm cờ lệnh trên đỉnh lô cốt Tô Vũ, đảng viên Đỗ Tùng nổi tiếng khắp Trung đoàn 148. Cái bằng khen của Trung đoàn, Đỗ Tùng cất rất cẩn thận vào trong cái ống nứa già có nắp đậy, chống được ngấm nước và luôn luôn mang theo bên người kể cả khi vào trận.

Cuối mùa thu năm đó (1949) tổ trinh sát của Đỗ Tùng được lệnh đi điều tra quy luật tuần tiễu của địch dọc đường Yên Châu (Sơn La). Khi cả tổ đang bóc sắn để nướng thì phát hiện một tiểu đội lính dõng Thái trắng, do tên sĩ quan Pháp chỉ huy, nghênh ngang tiến xuống cánh đồng có nhiều phụ nữ đang cấy. Không để cho chúng giở trò làm nhục phụ nữ, tổ trinh sát của Đỗ Tùng chủ động nổ súng. Bị bất ngờ chúng tháo chạy thục mạng, bỏ cả chỉ huy. Riêng Đỗ Tùng thì cứ nhắm hướng thằng Tây mà đuổi, với động cơ cướp lấy khẩu súng lục của nó để đeo cho oai. Khi tắt qua cánh đồng lầy, bùn mỗi lúc một sâu, kéo tụt mất cái quần đùi màu chàm, song Đỗ Tùng vẫn thản nhiên truy đuổi tiếp trên quãng đường đồng dài gần 3 cây số. Nhưng tiếc rằng vì bụng đói, người thấp nên Đỗ Tùng đã để viên sĩ quan Pháp qua sông, xổng mất. Khi biết chuyện anh trinh sát cởi truồng đuổi giặc, đồng chí Chính ủy Trung đoàn đã quyết định “đền” cho anh Đỗ Tùng khẩu tiểu liên “thay” cho khẩu súng lục của tên Pháp mà Đỗ Tùng ao ước …

Mặc áo gấm, đánh trống chèo tại Pa-ri

Sau trận đó, Đỗ Tùng được điều về Ban Chính trị Trung đoàn để thành lập Đội tuyên văn, với quân số trên dưới 10 người, chỉ có một diễn viên nữ.

Tuy không thầy không thợ nhưng anh em đã “dám” dựng những chương trình có quy mô lớn như tiết mục đồng ca bài “Nhớ ơn Hồ Chí Minh” của Văn Cao, “Nắng Ba Đình” của Bùi Công Kỳ, “Về Sơn La” của Nguyễn Như Long, “Đường qua biên giới” của Văn Hanh …

“Bạo gan” hơn nữa là Đội còn “coi trời bằng vung” tổ chức dựng hai vở kịch lớn: “Trên đường lưu động” của kịch gia Thế Lữ và “Nụ cười sơn cước” kịch thơ của Hoài Niệm.

Đỗ Tùng trong phim “Nhiếp chính Ỷ Lan”. Ảnh do nhân vật cung cấp.

Tất cả số cán bộ, chiến sĩ được điều động từ các đại đội về Ban chính trị Trung đoàn như Quang Tạo, Văn Miên, Đỗ Tùng, Đình Sự, Bách Niên đều trở thành các diễn viên kiêm nhiệm cả múa, hát, kịch. Bữa cơm hằng ngày tuy chỉ có hai lưng bát ngô bung không có vôi, không có muối… nhưng ai cũng vui vẻ say sưa luyện tập và biểu diễn. Khoản bồi dưỡng cho Đội sau mỗi đêm phục vụ thường là một thúng bưởi rừng hoặc vài rá sắn luộc… Bánh xà phòng cắt ra làm tám, to bằng một quân cờ, thế mà chị Hảo - nữ diễn viên duy nhất - phải gói trong lá chuối khô để dành, chỉ khi nào cần thiết mới “xát” một tý!

Đỗ Tùng là diễn viên duy nhất thoát chết trong trận phỉ Châu Quang Lồ đánh úp đoàn văn công Trung đoàn ở Nậm Na, Hoàng Su Phì (Hà Giang năm 1952). Anh được giao nhiệm vụ thành lập lại Đội văn công của Trung đoàn gồm Đàm Linh, Nguyễn Trường, Dương Tử Giang, Nguyễn Bắc, Trần Vịnh, Hoàng Sơn, Minh “con”, Hoàng Bội, Trịnh Thọ, Nguyên Hân, Lò Thị Ngâu, Bích Liên v.v…

Sau thời gian góp sức xây dựng đội Văn công Trung đoàn đã đủ lông đủ cánh (1954 - 1967), Đỗ Tùng được chuyển sang Đoàn chèo II Trung ương và chỉ ít lâu sau Tổng cục Chính trị lại “lôi” về đội chèo của Đoàn văn công Quân đội. Sau khi đội chèo của Tổng cục Chính trị giải thể, Đỗ Tùng về làm Đoàn phó đoàn chèo Tổng cục Hậu cần cho tới khi nghỉ hưu với quân hàm Trung tá và danh hiệu Nghệ sĩ ưu tú!

Suốt 54 năm mang danh hiệu Bộ đội Cụ Hồ, với Đỗ Tùng thì kỷ niệm về trận mạc cũng lắm và kỷ niệm sâu sắc về sân khấu cũng nhiều. Song từ trong sâu thắm đáy lòng, ông Đỗ Tùng khoái nhất là thời trai trẻ, ông từng là người lính cởi truồng… đánh giặc Pháp. Khi đứng tuổi được mặc bộ quân phục sĩ quan biểu diễn phục vụ riêng Thủ tướng Trung Quốc Chu Ân Lai tại Bắc Kinh và khi đã già, ông được mặc áo gấm, hoa “chữ Thọ” đỏ, đầu đội khăn xếp đỏ, đi biểu diễn trống chèo tại Pháp, Mỹ, Anh, Đan Mạch, Hà Lan, I-ta-li-a và Thụy Điển. Trong bộ quần áo dân tộc đó, ông đã chụp một bức ảnh dưới chân đài “Khải Hoàn Môn” tại Pa-ri (Pháp).

Ông bảo với một số bạn bè thân rằng:

- Những kỷ niệm đẹp trên đã thật sự có tác động giúp tôi thêm yêu đời, vượt qua được bệnh tật trong những lần nằm viện. Tuổi đời thì đã sắp “xuống lỗ”, song tôi vẫn cố gắng truyền lại tay nghề cho một số người có tâm huyết, có triển vọng giữ hồn cho nghề truyền thống chèo theo yêu cầu của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch. Nếu trước khi nhắm mắt mà tôi được góp phần dựng lại vở “Huyết Hồ” của Từ Đạo Hạnh thì tôi mãn nguyện vô cùng!

Ngọc Minh

Họ và tên:
Email:
Tiêu đề:
Mã xác nhận:

Nội dung
Gõ tiếng việt :    Off   Telex   VNI   VIQR
Các tin khác