Tình yêu người lính
Đêm hôm ấy...anh về
QĐND - Thứ Sáu, 13/07/2012, 15:18 (GMT+7)

QĐND - …Đó là một đêm đầu xuân năm 1966. Gà gáy canh hai. Tôi chập chờn không ngủ được. Có tiếng động nhẹ như bước chân mèo đi ăn đêm phía hông nhà. Rồi tiếng bàn tay mở chốt cửa. Tôi choàng dậy vớ ngay con dao đầu giường. Lại cái thằng sĩ quan đồn trưởng đi tắm rượu đâu đó rồi tới giở trò đây. Tôi đã chuẩn bị sẵn sàng cho những tình huống như thế này từ lâu rồi. Mũi dao này sẽ cắm phập vào cơ thể nó nếu nó manh động. Đúng lúc thần kinh tôi căng thẳng nhất thì một tiếng gọi quen thuộc, rất khẽ cất lên: “Tư à! Anh về với em đây”. Tôi như quên hết mọi thứ trên đời, ào đến anh như một cơn lốc. Đó là một đêm tuyệt diệu. Cả anh và tôi đều như ruộng hạn gặp mưa rào… Tình yêu bao giờ và lúc nào cũng là điều tuyệt diệu. Tình yêu trong thời khắc ấy, cái thời khắc đầy những nguy hiểm và bất trắc đang rình rập ấy, cái thời khắc muốn nói mà không thể hé răng, muốn khóc mà phải nén cho nước mắt chảy vào trong, muốn hét lên mà phải dồn nén âm thanh trong cuống họng; cái thời khắc người ta chỉ có thể cảm nhận nhịp tim đang thúc lên cùng nhau, mạch máu đang rần rật trong nhau… sự tuyệt diệu ấy không lời nào tả được. Dẫu cái đêm hôm ấy đã xảy ra cách đây 46 năm rồi, nhưng hôm nay ngồi nhắc lại, tôi vẫn thấy tim mình đập mạnh.

Chúng tôi ở bên nhau. Nồng nàn! Vội vã! Lo âu! Khắc khoải! Hạnh phúc… Khoảng thời gian đâu chừng hai tiếng đồng hồ thôi. Anh về như một cơn gió và cũng nhanh chóng rời khỏi tôi, rời khỏi căn nhà tranh bé nhỏ cách đồn địch chỉ một quãng đi bộ như một cơn gió (hồi đó nhà tôi ở gần nơi đóng quân của Sư đoàn 5, quân đội Sài Gòn ở Củ Chi). Chỉ cần chạm mặt đám lính đi tuần hoặc lúc trời sáng nhìn rõ mặt, tính mạng của anh, sự nghiệp của anh và nhiệm vụ nặng nề của tổ chức lúc bấy giờ sẽ trở nên cực kỳ nguy hiểm. “Anh phải qua sông trước lúc trời sáng. Em giữ gìn sức khỏe” - Anh chỉ kịp nói nhỏ vào tai tôi như vậy rồi lách mình qua khe cửa. Tôi đòi tiễn anh ra bến sông nhưng anh bảo không nên, sẽ nguy hiểm và dễ bị lộ. Tôi đứng nép mình bên cửa nhìn theo bóng anh mất hút vào màn đêm đen đặc lất phất mưa. Phía đầu ấp dậy lên tiếng chó sủa râm ran. Đó là lúc tụi lính gác thay ca trực và đi tuần tra.

Anh đi rồi, tôi đếm nhịp kim giây đồng hồ thao thức. Ngày đêm chắp tay lạy trời cầu phật cho anh được bình an. Đến với nhau trong nhiệm vụ. Yêu nhau trong tình đồng chí và cưới nhau trong bí mật. Thời gian chúng tôi ở bên nhau ngắn chẳng tày gang. Vội vã trở về rồi lại vội vã ra đi. Chiến tranh mà. Tất cả cho nhiệm vụ cách mạng.

Ông bà Nguyễn Văn Thương, Trần Thị Em hôm nay.

Một thời gian sau, tôi hạnh phúc trào nước mắt khi biết, một mầm sống đang cựa mình lớn dần trong bụng. Anh biết tin này chắc sẽ hạnh phúc lắm. Tôi nâng niu, gìn giữ báu vật cuộc đời, kết quả của tình yêu tôi dành cho anh. Mỗi đêm, tôi lại tự mình lấy tay xoa lên bụng, thay anh vỗ về, trò chuyện với đứa con yêu quý của mình. 9 tháng sau cái đêm hôm ấy, vào ngày 20-12-1966, tôi sinh con trai đầu lòng và đặt tên con là Nguyễn Thanh Liêm. Tôi mong muốn con trai tôi sẽ như ba nó, anh dũng, thanh cao và liêm khiết.

Niềm hạnh phúc được làm mẹ vừa đến thì cũng là lúc tôi bước vào cơn bĩ cực không biết san sẻ cùng ai. Sau cái đêm hôm ấy, anh đi biền biệt, không một dòng tin tức. Tôi biết anh đang bước vào giai đoạn cam go, nhiệm vụ của anh hết sức nặng nề và nguy hiểm. Nhiều lúc tôi chợt nghĩ dại, hay là anh đã hy sinh?

Sức ép kinh khủng đầu tiên mà tôi phải gánh chịu là mang tiếng xấu, gái chửa hoang. Ngày ấy tôi và anh lấy nhau, chỉ có ba mẹ tôi và rất ít các đồng chí lãnh đạo trong đơn vị của anh và tôi biết. Tôi làm giao liên, còn anh hoạt động bí mật trong mạng lưới tình báo. Thế nên mặc dù tôi là gái đã có chồng nhưng trên thực tế, tôi vẫn là một cô gái còn son, con nhà lành. Tôi có nhan sắc, nhà lại ở gần trại lính và đồn cảnh sát nên không ít viên sĩ quan, cả cấp cao và đám sĩ quan làng nhàng đều lấy tôi làm mục tiêu săn đuổi. Tán tỉnh, thuyết phục không được, chúng lập mưu giở trò. Nhiều lần viên sĩ quan đồn trưởng cảnh sát sau khi nhậu ngà ngà lại kiếm cớ đến nhà tôi vào ban đêm nhưng tôi kiên quyết khước từ. Việc tôi “chửa hoang” không chỉ khiến bà con họ hàng gièm pha, mai mỉa mà nguy hiểm hơn là cảnh sát Sài Gòn đã đưa tôi vào diện nghi vấn, tôi và gia đình tôi là “sân sau” của Việt Cộng. Trực tiếp tên đồn trưởng cảnh sát đã cho gọi tôi lên đồn, ban đầu thì nhỏ nhẹ thuyết phục, về sau thì hăm dọa, tra khảo, bắt tôi phải khai ai là cha của đứa bé? Chúng nghi tôi đã có con với một tên Việt Cộng nào đó, bởi nếu cha của đứa bé là một viên sĩ quan nào đó thì nhất định chúng phải biết? Tôi đã chuẩn bị sẵn tinh thần nên trước sau gì cũng chỉ nói, tôi bị lừa tình. Rằng trong những ngày đi mua vải (hồi đó nhà tôi mở tiệm may để che mắt địch nên dăm bữa nửa tháng lại vô nội thành mua vải), tôi đã gặp và có cảm tình với một gã lái buôn. Hắn nói yêu tôi, cưới tôi làm vợ nhưng khi biết tôi có thai thì đã vội vàng “bỏ của chạy lấy người”. Tôi nói với mấy tên sĩ quan cảnh sát rằng, nhờ các ông điều tra tìm giúp tôi cái thằng sở khanh đó. Các ông mà tìm được hắn, muốn gì tôi cũng chiều. Tôi sẽ băm vằm cái mặt thằng đó ra trăm mảnh cho hả giận. Hết lần này đến lần khác, tôi đều một kiểu điệp khúc như vậy. Tôi làm ra bộ căm thù kẻ bội tình đến tột đỉnh. Tụi nó thôi, không tra xét tôi nữa nhưng lại bày trò tâm lý chiến. Thỉnh thoảng, đám sĩ quan lại ghé qua nhà tôi, xin bế con tôi đi chơi để mua quà, bánh. Thực chất là tụi nó bế đi khắp các nhà dân trong vùng để hỏi xem con tôi giống ai, từ đó lần tìm tung tích của cha nó. Nhưng cách đó cũng chả khác gì “mò kim đáy bể”. Khi tình hình tạm yên, tôi lấy lý do vô nội thành Sài Gòn làm tiệm may để mở rộng mạng lưới giao liên hoạt động trong nội thành, đồng thời tìm tin tức của anh, nhưng tất cả đều như “bóng chim tăm cá”. Mãi đến năm 1969, tôi mới có được chút manh mối, rằng anh đã bị địch bắt và đang bị giam giữ tại nhà tù Hố Nai. Kế hoạch đến nhà tù Hố Nai thăm anh được tôi và má tôi vạch ra rất tỉ mỉ dưới sự tư vấn của một vài đồng chí thân cận. Má tôi làm một cái giấy, xin xác nhận của chính quyền địa phương đến nhà tù Hố Nai thăm một đứa cháu mồ côi, không hiểu vì sao lại bị bắt vào đó. Tờ giấy xác nhận ấy giúp hai má con tôi lọt qua được cánh cổng sắt nhà tù có đến mấy tầng lính gác để vào khu biệt giam thăm anh. Khi cánh cửa buồng giam mở ra, tôi nhìn thấy hai tên gác ngục khiêng một cái cáng đưa một người tù đã bị cụt hai chân đến quá phần đùi, dáng người khô đét như que củi đi ra. Tôi bàng hoàng nhắm nghiền mắt và cầu trời khấn phật đó không phải là anh. Rằng, chúng đã nhầm người. Một… hai… ba… bước chân của hai tên gác ngục mỗi lúc một gần. Khi nghe một tiếng “xịch”, cái cáng đã được tụi nó khiêng đến, tôi mới mở mắt he hé nhìn qua kẽ tay. Trời đất ơi! Sao lại thế này? Tôi chỉ kịp vo tròn nắm tay nhét vào vòm miệng để kìm tiếng thét, tiếng khóc. Tôi chỉ kịp nấc lên một tiếng rồi ngã lăn ra đất, bất tỉnh.

Sau này, nghe má tôi và anh kể lại thì ngay lúc đó, tụi lính sinh nghi nên hỏi dồn: “Sao vậy? Chuyện gì vậy”? Má tôi nhanh trí kêu to: “Hai ơi Hai. Dì đây con. Sao con ra nông nỗi này hả con? Mười mấy năm qua con bỏ đi đâu? Hôm nay biết tin con bị giam ở đây, dì dẫn bé Tư đến thăm con. Nó thấy con như vầy, nó xỉu luôn rồi nè”. Viên sĩ quan đứng cạnh đó hất hàm hỏi anh: “Họ là thế nào với anh”? Anh cũng nhanh trí đáp: “Hai mẹ con bà dì họ. Lâu lắm rồi không gặp, không hiểu sao họ biết tôi ở đây mà tìm. Tôi có còn ai thân thích nữa đâu”.

Tôi tỉnh dậy khi đã được cấp cứu. Trở về nhà, lòng tôi đau như cắt. Dẫu đã xác định từ đầu, dấn thân vào con đường cách mạng là phải chấp nhận hy sinh, tù đày, nhưng gặp lại anh trong hoàn cảnh ấy, tôi không thể cầm lòng. Con người vạm vỡ, võ nghệ cao cường của anh ngày nào giờ chỉ còn da bọc xương, thương tích đầy mình, hai chân bị cụt. Về sau tôi mới biết, anh bị địch bắt sau cái đêm hôm ấy không lâu trong một lần đi hoạt động bị lộ. Địch sử dụng cả trực thăng đổ quân để bao vây anh trên một cánh đồng gần khu Thủ Dầu Một. Anh bình tĩnh, mưu trí phi tang tài liệu và chiến đấu đến viên đạn cuối cùng, tiêu diệt cả chục tên địch trước khi bị bắt. Chúng đã áp dụng mọi thủ đoạn dùng tiền mua chuộc, lấy gái đẹp dụ dỗ rồi đến tra tấn cực hình dã man. Đôi chân anh đã bị chúng cưa đến 6 lần nhưng anh không hề hé răng khai báo. Vì bị địch kiểm soát chặt chẽ nên cái tin anh đã có con trai, hôm đó tôi và má tôi không thể nào nói cho anh biết được.

Mặc dù bị sốc nặng nhưng tôi đã nhanh chóng lấy lại thăng bằng. Tôi hiểu, anh đang nắm giữ những bí mật quan trọng của cách mạng. Trận chiến nào cũng phải có mất mát hy sinh. Càng những lúc khó khăn, gian nguy, thử thách, mình càng phải vững niềm tin. Tôi dành tất cả tình thương yêu chăm sóc cho con và chờ đợi ngày anh trở về. Năm 1973, sau hiệp định trao trả tù binh, anh được chuyển về Lộc Ninh. Đó cũng là ngày đầu tiên vợ chồng, cha con đoàn tụ sau bao nhiêu mất mát, hy sinh, nụ cười chan đầy nước mắt. Dù thương tật đầy mình nhưng anh vẫn sống trở về. Với tôi, đó là một niềm hạnh phúc quá lớn lao lúc này…

(Ghi theo lời kể của bà Trần Thị Em, vợ Thiếu tá tình báo, Anh hùng LLVT nhân dân, thương binh hạng ¼ Nguyễn Văn Thương ở TP Hồ Chí Minh).

Bài và ảnh: Hà Tuệ 
Họ và tên:
Email:
Tiêu đề:
Mã xác nhận:

Nội dung
Gõ tiếng việt :    Off   Telex   VNI   VIQR
Các tin khác