Một thời để nhớ
40 năm chiến thắng Quảng Trị (1972-2012)
5 lần chết “hụt” và tấm lòng với tác giả “Màu tím hoa sim”
QĐND - Thứ Ba, 22/05/2012, 20:15 (GMT+7)

QĐND - Hết nhiệm kỳ, rời ghế Bộ trưởng Bộ Y tế thanh thản như “người nông dân cày xong thửa ruộng”, ông được Bộ Chính trị tín nhiệm giao làm Trưởng ban bảo vệ, chăm sóc sức khỏe cán bộ Trung ương. Phòng làm việc của ông ở phố Thiền Quang, được bài trí giản dị, ngăn nắp. Ông trân trọng treo trong phòng tấm bảng ghi “10 điều y đức của đại y tôn Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác” và bằng kỷ niệm chương chiến sĩ bảo vệ thành cổ Quảng Trị 1972. Ông chỉ vào bức ảnh để trên bàn, hỏi tôi: “Cậu biết ai đây không? Hữu Loan, tác giả bài thơ “Màu tím hoa sim” đấy. Bài thơ này theo tôi suốt những năm tháng ở chiến trường. Phải đến gần 40 năm sau tôi mới gặp được ông”…

5 lần chết “hụt” và tấm lòng với mảnh đất thiêng

Năm 1971, chàng trai Nguyễn Quốc Triệu quê miền quan họ Bắc Ninh đang học năm thứ ba Đại học Y khoa Hà Nội nhập ngũ. Ông được biên chế về Đại đội 24 quân y, Trung đoàn 18, Sư đoàn 325, trực tiếp chiến đấu và phục vụ chiến đấu tại chiến trường Quảng Trị trong những ngày hè đỏ lửa năm 1972. Ông hóm hỉnh bảo: “Tôi là người “cao số” vì bị những 5 lần chết “hụt” cơ mà”. Lần đầu cận kề với cái chết là khi đang hành quân từ Bắc vào. Đến rừng cao su Quyết Thắng (Quảng Bình) thì bị máy bay oanh tạc. 5 người trong đó có ông đang ngồi trong hầm chữ A thì bỗng nghe một tiếng nổ rất gần. Căn hầm như chao nghiêng. Đất cát bay rào rào. Một quả bom làm bay nóc hầm, khoét vào lòng đất một cái hố sâu hoắm. “Chỉ chệch một chút nữa thôi là 5 chúng tôi đã chung một giỗ rồi đấy” – ông Triệu cười.

Một lần đơn vị Nguyễn Quốc Triệu đang ở làng Bích La Đông (Triệu Phong, Quảng Trị) thì nhận được thông báo địch đi càn. Ông cùng với chiến sĩ Đức lao xuống hầm. Bình thường hai người thường ngồi ở ngách bên phải, nơi có lối thoát ra vườn khi nhà cháy hoặc hầm sập nhưng lúc đó không hiểu thế nào, Triệu và Đức lại chui sang ngách bên trái. Trực thăng của địch bay sát ngọn tre, thỉnh thoảng lại bắn như vãi đạn vào những chỗ chúng nghi ngờ. Một quả cối cá nhân bất ngờ rơi đúng miệng hầm phía ngách bên phải. Hai chiến sĩ quân y thoát chết chỉ trong gang tấc.

Một thời gian sau, Trung đoàn 18 di chuyển đội hình về Hải Lăng, đóng cạnh sông Lam Thủy. Hôm ấy, Nguyễn Quốc Triệu và Đỗ Mão, chiến sĩ quân y cùng đại đội được giao nhiệm vụ lên trung đoàn nhận quân trang. Từ đại đội đến trung đoàn bộ chỉ chừng hơn 3 cây số nhưng hầu hết phải đi trong giao thông hào hoặc bờ sông, sát mép nước vì khu vực này máy bay, phi pháo địch đánh phá rất dữ dội. Nhận quân trang xong, đang tấp tểnh định quay về đại đội thì ông nghe thấy tiếng gọi giật giọng của Chủ nhiệm hậu cần trung đoàn Ngô Thản: “Triệu hả! Vào chỗ tớ uống nước đã”. Hai người quay lại, được ông Thản mời uống chè và chiêu đãi thuốc lá Tam Đảo. Trò chuyện với người đồng hương chừng gần 15 phút, hai ông chia tay thủ trưởng để về đơn vị. Đi được một lúc, thấy mặt đất rùng rùng chuyển động, bom nổ ầm ầm phía trước mặt: “Chết rồi, B52 rải thảm”, Triệu kêu lên. Theo phản xạ, 2 chiến sĩ trẻ lăn nhanh xuống mép sông và cảm giác như bồng bềnh do sức ép kinh khủng của bom. Bom dứt, họ trở về đơn vị và chứng kiến cảnh tan hoang trên đường. Hai người lính trẻ chợt rùng mình, vì nếu không có mấy chục phút uống nước với chủ nhiệm Ngô Thản thì chắc chắn họ đã đi vào đúng tọa độ vào thời điểm B52 rải thảm.

TS Nguyễn Quốc Triệu (người bên phải) xúc động gặp lại Chủ nhiệm hậu cần Ngô Thản. Ảnh chụp lại.

Ngày 20-6-1972, khi đang ở Triệu Thành (Triệu Phong), tranh thủ lúc ngớt bom đạn, ông và đồng đội lên nóc hầm cắt tóc. Mọi người đang nói chuyện râm ran, chợt nghe tiếng “xoẹt xoẹt” trên đầu. Bằng kinh nghiệm chiến trường, nhanh như cắt, Nguyễn Quốc Triệu và Nguyễn Văn Liệu lăn vội xuống hầm. Đỗ Mão, người thoát chết cùng với ông Triệu trong vụ bom rải thảm cách đó không lâu, chỉ chậm hơn tích tắc đã dính mảnh phi pháo của địch và hy sinh ngay sau đó. “Đêm ấy tôi và Trương Xuân Hương đưa Mão đi chôn trong tiếng gầm thét của pháo địch từ ngoài bắn vào. Tôi lấy lọ huyết thanh đề dòng chữ: “Đỗ Mão, thôn Lan Đình, xã Kim Long, huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phú - c24, e18, f325” bỏ vào túi áo của anh. Trương Xuân Hương còn cẩn thận lấy khúc gỗ và trổ dòng chữ tương tự vào miếng sắt được lấy ra từ thùng lương khô, rồi chôn theo mộ của Mão. Nhờ đó, sau chiến tranh hài cốt của Đỗ Mão đã được đưa về nghĩa trang xã Hải Phú (Hải Lăng) với đầy đủ thông tin của liệt sĩ” - Nguyễn Quốc Triệu xúc động hồi tưởng.

Lần cuối cùng chết “hụt” ở chiến trường đã làm Nguyễn Quốc Triệu trọng thương và phải xa đội hình chiến đấu của đơn vị để ra Bắc điều trị. Hôm đó, Đại đội 24 vừa được điều động đến vị trí tập kết thì địch nã pháo vào trúng đội hình. Căn hầm của Triệu bị quả đạn pháo cắt đứt nóc. Bom vừa ngớt, ông Ngô Thản và Đại đội trưởng Phan Ngọc Sơn đi kiểm tra thì thấy Nguyễn Quốc Triệu bị thương nặng ở ổ bụng, máu đỏ loang quần áo. Phan Ngọc Sơn và y tá Trương Xuân Hương cõng Triệu xuống xuồng máy, chở ngay ra bệnh viện mặt trận ở Cam Lộ. Nhưng đi được nửa chừng thì xuồng chết máy. Tình hình nguy cấp vì vết thương vẫn tiếp tục ra máu, nếu chậm trễ thì tính mạng người chiến sĩ trẻ sẽ không qua khỏi. Đồng đội vội bỏ xuồng khiêng thương binh chạy bộ hơn 3 cây số tới bệnh viện. May mắn một lần nữa lại đến với Nguyễn Quốc Triệu khi hôm đó bệnh viện mặt trận vừa được tăng cường đội điều trị của Quân y Viện 103 (mang bí danh là Đội phẫu thuật tiền phương 301) từ miền Bắc vào nên ông đã được phẫu thuật kịp thời và cứu sống. Kể đến đây, người cựu binh Quảng Trị vạch áo cho tôi xem vết sẹo còn nhằng nhịt trên bụng, cười hà hà bảo: “Kỷ niệm chiến trường đấy. Mới tháng trước tớ đi kiểm tra, trong đó vẫn còn mảnh đạn. Khi ở chiến trường về, mình có hỏi thầy Tôn Thất Tùng về cái mảnh đó, thầy bảo: “Cứ chung sống hòa bình với nó”. Quả nhiên, 40 năm rồi nó vẫn nằm im ở đó”.

Rời chiến trường nhưng trong tâm khảm Nguyễn Quốc Triệu vẫn nặng lòng với mảnh đất mà ông gọi đó là mảnh đất thiêng Quảng Trị, nơi ông đã để lại một phần tuổi thanh xuân và xương máu ở đó. Sau này, trên các cương vị công tác, dù là Chủ tịch thành phố Hà Nội, Bộ trưởng Bộ Y tế hay hiện nay là Trưởng ban bảo vệ, chăm sóc sức khỏe cán bộ Trung ương ông đều dành thời gian về chiến trường xưa, thắp hương và tri ân đồng đội. Ông còn lặn lội về tận thôn An Khê, xã Hải Thượng tìm đến ngôi nhà có căn hầm nơi ông và Trương Xuân Hương được kết nạp Đảng ngày 25-8-1972. Biết hoàn cảnh của chủ nhà - người nữ du kích hồi ông còn ở đó, ông Triệu và đồng đội đã quyên góp, xây giúp một ngôi nhà nhỏ và tặng một số vật dụng thiết yếu trong nhà. Hồi còn làm Chủ tịch UBND thành phố Hà Nội, ông khởi xướng và giúp tỉnh Quảng Trị xây được 200 căn nhà dành cho các gia đình chính sách, huy động trên 800 triệu đồng làm học bổng cho các cháu nhà nghèo học giỏi. Mỗi lần đi công tác tại các tỉnh, ông đều tranh thủ hỏi thăm và tìm đến các đồng đội. Sau nhiều năm, ông đã tìm lại được nguyên Chủ nhiệm hậu cần Ngô Thản và Đại đội trưởng Phan Ngọc Sơn, hai người thủ trưởng thân thiết và là ân nhân của ông trong những ngày lửa đạn ở chiến trường Quảng Trị…

38 năm và cuộc gặp với tác giả “Màu tím hoa sim”

…Tôi mặc đồ quân nhân/ đôi giày đinh/ bết bùn đất hành quân/ Nàng cười xinh xinh/ bên anh chồng độc đáo/ Tôi ở đơn vị về/ Cưới nhau xong là đi/ Từ chiến khu xa/ Nhớ về ái ngại/ Lấy chồng thời chiến binh/ Mấy người đi trở lại/ Nhỡ khi mình không về/ thì thương/ người vợ chờ/ bé bỏng chiều quê.../ Nhưng không chết/ người trai khói lửa/ Mà chết/ người gái nhỏ hậu phương/… Trong dòng ký ức chiến trường, bất giác, tiến sĩ Nguyễn Quốc Triệu nhắc đến nhà thơ Hữu Loan và hạ giọng, rủ rỉ đọc lại những câu thơ tình yêu, tình vợ chồng trong chiến tranh hay bậc nhất của thi đàn Việt Nam. Những câu thơ da diết ấy và kỷ niệm trong cuộc gặp với tác giả “Màu tím hoa sim” cách đây không lâu vẫn đọng lại trong ông cảm xúc khó diễn tả thành lời.

Bộ trưởng Nguyễn Quốc Triệu tặng hoa và đọc “Màu tím hoa sim” cho nhà thơ Hữu Loan. Ảnh do nhân vật cung cấp.

Vị Bộ trưởng tâm sự rằng, ngày vừa nhập ngũ, huấn luyện tại núi rừng Yên Thế, ông đã đọc không biết bao nhiêu lần và thuộc làu làu bài thơ “Màu tím hoa sim”. Ông lại nghe Tiểu đội trưởng Mẫu kể chuyện về nhà thơ Hữu Loan, một con người nghĩa hiệp và khí khái. Ông chép bài thơ vào sổ tay và ngâm nga “Màu tím hoa sim” mỗi khi dừng chân ven rừng, bên suối. Chiến trường ác liệt nhưng những người lính sinh viên vẫn lãng mạn mơ về những bóng hoa sim trên nẻo đồi nào đó, cho dù phần nhiều trong số họ chưa từng có một mảnh tình vắt vai. Hồi ấy bài thơ chưa được phổ cập, nhưng lại ám ảnh người chiến sĩ quân y cho đến mãi tận sau này. Anh tự nhủ lòng mình, nhất định có dịp sẽ phải đến tìm và gặp nhà thơ Hữu Loan, tác giả của “Màu tím hoa sim”.

Tâm nguyện là vậy nhưng mãi đến năm 2009, nghĩa là 38 năm sau những ngày Nguyễn Quốc Triệu và đồng đội mang theo “Màu tím hoa sim” vào đất lửa Quảng Trị, ông mới có cơ hội gặp nhà thơ mà ông yêu mến, ngưỡng mộ. Lúc đó, ông đang là Ủy viên Trung ương Đảng, Bộ trưởng Bộ Y tế và nhà thơ Hữu Loan trải qua bao thăng trầm, chìm nổi của cuộc đời đã bước sang tuổi 95. Người lính Thành cổ rưng rưng bước tới giường bệnh nắm chặt bàn tay gân guốc của thi sĩ già, hỏi thăm và trò chuyện về hoa sim tím: “Thưa bác, 38 năm trước trong hành trang của chúng cháu vào chiến đấu ở chiến trường Thành cổ Quảng Trị, ngoài súng đạn, lương khô còn có bài thơ cháu chép tay để trong túi áo ngực, đó là bài “Màu tím hoa sim”. Trong rất nhiều ca khúc người lính vẫn hát như bài: “Vì nhân dân quên mình”, “Giải phóng miền Nam” có bài “Màu tím hoa sim” mà các nhạc sĩ đã phổ nhạc. Những bài hát ấy đã động viên chúng cháu vượt qua gian khó rất nhiều...”. Bó hoa mà vị Bộ trưởng tặng nhà thơ hôm ấy không có hoa sim tím nhưng ông đã làm bậc thi nhân cao niên lặng người đi khi ông đọc lại bài thơ với tâm trạng đầy xúc cảm. Có lẽ vì quá xúc động mà Bộ trưởng Triệu đọc lẫn hai từ “rờn rợn” thành câu: “Gió sớm thu về gờn gợn nước sông”. Nhà thơ Hữu Loan rướn mình nhắc: “Bộ trưởng ơi, xin sửa lại: Gió sớm thu về rờn rợn nước sông. Rờn rợn chứ không phải gờn gợn”. Vị Bộ trưởng giật mình, dừng lại một hồi vì xúc động.

Anh cán bộ của Phòng văn hóa huyện Nga Sơn (Thanh Hóa) xin phép được ôm ghi-ta hát tặng bài “Màu tím hoa sim”. Những câu hát quen thuộc, giai điệu trong trẻo được ngân lên trong khán phòng nhỏ làm tất thảy chủ, khách đều rưng rưng… Có lẽ đây là lần cuối cùng nhà thơ Hữu Loan được nghe lại tác phẩm nổi tiếng của mình từ những người yêu “Màu tím hoa sim”. Chỉ vài tháng sau, ông mang theo bóng sim tím về nơi xa mãi…

Hoàng Tiến – Song Thanh

Họ và tên:
Email:
Tiêu đề:
Mã xác nhận:

Nội dung
Gõ tiếng việt :    Off   Telex   VNI   VIQR
Các tin khác