Mậu Thân 1968 - bài học về sự vận dụng đường lối quân sự của Đảng trong tác chiến
 |
|
Bác Hồ cùng các uỷ viên Bộ Chính trị họp bàn chiến dịch Tết Mậu Thân 1968. Ảnh tư liệu. |
Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân (1968) đến nay đã qua 40 năm. Thời gian là nhân chứng lịch sử trung thực nhất, chứng minh: Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1968 đã giành được thắng lợi rất to lớn, như khẳng định của Hội nghị Trung ương lần thứ 21, năm 1973: “Cuộc Tổng tiến công chiến lược ấy đã giành những thắng lợi rất to lớn buộc đế quốc Mỹ phải thay đổi chiến lược quân sự của chúng. Ta đã tiêu diệt được nhiều sinh lực và phương tiện chiến tranh của địch, giải phóng thêm hàng triệu đồng bào và trên cơ sở đó làm lung lay ý chí xâm lược của đế quốc Mỹ... Ta đã kéo Mỹ xuống thang chiến tranh, buộc chúng phải xuống thang không điều kiện chiến tranh phá hoại miền Bắc và nhận họp hội nghị bốn bên ở Pa-ri”.
Trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968, vận dụng một cách sáng tạo đường lối quân sự của Đảng, Bộ Chính trị chủ trương mở hoạt động lớn ở Mặt trận Đường số 9- Khe Sanh, xem đó là một trong những mặt trận của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy đồng loạt Xuân 1968; là một hoạt động chính của bộ đội chủ lực ta nhằm thu hút quân cơ động của Mỹ, tiêu diệt một bộ phận, vây hãmvà giam chân tiêu hao chúng, tạo thế cho các chiến trường khác, nhất là Sài Gòn, Huế, Đà Nẵng tiến công và nổi dậy thắng lợi.
Trước khi mở những đòn tiến công táo bạo đồng loạt vào các đô thị, Bộ Chỉ huy tối cao của ta đã phân tích rất kỹ lưỡng tình hình, so sánh lực lượng... Trên cơ sở những phân tích, nhận định, đánh giá khách quan, khoa học, chúng ta đã âm thầm chuẩn bị trong nhiều tháng, thậm chí nhiều năm việc cất giấu, vận chuyển vũ khí; tổ chức, xây dựng lực lượng đấu tranh chính trị trong các tầng lớp nhân dân; bí mật xây dựng dựng thế trận, tổ chức “ém quân”, vạch phương án tác chiến, cơ động lực lượng. Theo kế hoạch, đêm 31-1, đúng vào lúc tiếng pháo giao thừa nổ ran khắp miền Nam, các lực lượng vũ trang ta đồng loạt tiến công vào các đô thị. Bộ đội đặc công, biệt động, pháo binh và bộ binh đã đánh trúng hầu hết vào các cơ quan đầu não của địch ở trung ương và địa phương, các bộ chỉ huy và các căn cứ lớn của địch. Đặc biệt, trận tiến công của ta vào tòa nhà Đại sứ quán Mỹ khiến nước Mỹ hoảng hốt, phương Tây bất ngờ, kinh ngạc.
Việc chọn mục tiêu tiến công là các đô thị trong Cuộc tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1968 là điều địch không hề ngờ tới, được thể hiện từ những cố gắng bắt đầu và kiên quyết thực hiện các đòn tiến công, đến việc bố trí hợp lý nhất toàn bộ lực lượng, các đơn vị từ đặc công, biệt động, bộ binh, pháo binh của ta trong việc tiến công những lực lượng, đơn vị địch mạnh hơn nhưng kém chuẩn bị vào thời gian và địa điểm mà chúng không ngờ tới. Do đó, địch không có khả năng kháng cự có tổ chức và buộc phải chiến đấu chống lại trong tình thế bất lợi. Trong cuộc tiến công vào thành phố, thị xã, thị trấn, bộ đội ta đã được sự ủng hộ và đón tiếp nồng hậu của nhân dân. Những anh em bị lạc đường hoặc bị thương được nhân dân che chở, nuôi dưỡng tận tình và tổ chức đưa về căn cứ. Phối hợp với các cuộc tiến công vào đô thị của lực lượng vũ trang nhân dân và du kích, đồng bào nổi dậy diệt ác, trừ gian, giải tán dân vệ, giành quyền làm chủ xã, buôn, làng. Ở nhiều nơi, lực lượng chính trị quần chúng tổ chức thành đội ngũ, kéo vào thị xã, thị trấn, sẵn sàng cùng nhân dân tại chỗ nổi dậy giành chính quyền (Quảng Ngãi, Buôn Ma Thuột, Bến Tre, Mỹ Tho). Ta đã giải phóng được nhiều thôn, ấp, phường, đường phố gồm 120 vạn dân trong một thời gian dài
Tuy nhiên, chúng ta cần phải thấynhững mặt còn hạn chế trong việc vận dụng đường lối quân sự của Đảng trong chỉ đạo tác chiến chiến lược-chiến dịch trong những đợt tiến công sau Tết; đồng thời phải thấy khuyết điểm cả trong việc đề ra mục tiêu chiến lược của toàn Cuộc tổng tiến công và nổi dậy cũng như trong quá trình chỉ đạo thực hành. Liên hệ với tình hình thực tiễn khi ấy, có thể nói cụ thể hơn, chúng ta đã đánh giá không đúng so sánh lực lượng địch ta, đánh giá quá thấp khả năng của cả quân Mỹ và ngụy quân, ngụy quyền; đánh giá quá cao khả năng của cả lực lượng quân sự và lực lượng chính trị của ta; đặc biệt khả năng nổi dậy của các lực lượng chính trị ở các đô thị trong tình hình bộ máy quân sự của địch còn mạnh. Do đó, đã phạm sai lầm chủ quan trong việc đề ra mục tiêu tổng công kích -Tổng khởi nghĩa giành toàn bộ chính quyền về tay nhân dân trong tình hình lực lượng so sánh và thời cơ chưa cho phép. Nhưng trong chỉ đạo thực tiễn, ta chỉ thiên về khả năng thứ nhất, không chuẩn bị cho các khả năng khác, tuy Nghị quyết 14 của Đảng có đề ra 3 khả năng:
1. Ta giành được thắng lợi to lớn ở các chiến trường quan trọng, đè bẹp ý chí xâm lược của địch, bắt chúng phải chịu thua, phải thương lượng, đi đến kết túc chiến tranh theo những mục tiêu và yêu cầu của ta;
2. Tuy ta giành được thắng lợi quan trọng ở nhiều nơi, nhưng địch sẽ cố gắng tập trung và tăng viện lực lượng từ ngoài vào, giành lại và giữ vững những vị trí quan trọng, ổn định được các thành thị lớn, nhất là “đô thành’ và dựa vào các căn căn cứ lớn để tiếp tục chiến đấu với ta;
3. Mỹ động viên và tăng viện thêm nhiều lực lượng, mở rộng chiến tranh cục bộ ra miền Bắc Việt Nam, sang Cam-pu-chia và Lào, xoay chuyển cục diện chiến và gỡ thế thua của chúng...
Khi thời cơ đã qua đi, ta lại không phát hiện sớm tình hình đã thay đổi để kịp thời có chủ trương thích hợp như Nghị quyết của Đảng đã giữ kiến. Sau đợt tiến công Tết Mậu Thân, yếu tố bất ngờ không còn nữa, địch đã củng cố lại lực lượng và tăng cường về các đô thị, nếu ta kịp thời kiểm điểm lại tình hình, đánh giá lại lực lượng và chuyển hướng chủ trương chỉ duy trì hoạt động quân sự, chính trị với mức độ phù hợp ở các đô thị và vùng ven đô thị, tập trung lực lượng chủ yếu tiếp tục quét địch ở cơ sở, giữ vững và mở rộng quyền làm chủ ở nông thôn rộng lớn thì ta không gặp khó khăn lớn và tổn thất nặng trong những đợt tiến công sau vào đô thị mà còn phát huy mạnh mẽ thắng lợi của đợt tiến công Tết Mậu Thân, tạo thêm thế và lực mới cho ta trên cả ba vùng: đô thị, nông thôn, rừng núi. Cũng cần nói đến một sai lầm không kém phần nghiêm trọng, đó là thái độ chỉ đạo, chỉ huy chủ quan, thiếu dân chủ, không thực sự lắng nghe và nghiên cứu tình hình thực tiễn do dưới báo cáo lên. Còn cấp dưới thì không đủ dũng cảm để phản ánh trung thực tình hình, nhất là tình hình khó khăn và nêu lên những kiến nghị trái với ý định của cấp trên. Khuyết điểm đó phần nào đã làm cho sự chỉ đạo của trên không sát, tiếp tục phạm sai lầm chủ quan.
Bài học vận dụng đường lối quân sự của Đảng trong chỉ đạo tác chiến chiến lược –chiến dịch trong Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968 còn có giá trị thời sự trong sự nghiệp xây dựng, củng cố nền quốc phòng toàn dân bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN hiện nay. Công tác chỉ đạo chiến lược, chiến dịch phải quán triệt sâu sắc các chủ trương, nghị quyết, đường lối của Đảng, nhất là đường lối quân sự của Đảng trong giai đoạn hiện nay, trên cơ sở bám sát thực tiễn, lấy thực tiễn làm thước đo để vận dụng sáng tạo, có hiệu quả trong từng nhiệm vụ. Luôn luôn cảnh giác, sẵn sàng đánh thắng chiến tranh xâm lược của địch trong mọi tình huống với bất cứ quy mô nào. Công tác chỉ đạo chiến lược, vì thế phải đánh giá đúng đối tượng chiến lược của cách mạng Việt Nam và đối tượng tác chiến chiến lược của các lực lượng vũ trang nhân dân ta. Trên cơ sở đó, tích cực chuẩn bị nhân tố chính trị - tinh thần sẵn sàng đánh thắng chiến tranh xâm lược. Đồng thời, tích cực chuẩn bị tiềm lực kinh tế; chuẩn bị tiềm lực quốc phòng và an ninh; chuẩn bị hậu phương và căn cứ của cả nước, hậu phương, căn cứ trên từng chiến trường; soát xét các khu vực phòng thủ trên từng hướng chiến lược, tổ chức và chuẩn bị thiết bị chiến trường; củng cố và chấn chỉnh lực lượng vũ trang sẵn sàng đáp ứng yêu cầu tác chiến trong điều kiện mới./.
Nguyễn Thế Vỵ