Thông tin y học quân sự nước ngoài
Y học trong chiến dịch (médecine opérationnelle)
QĐND - Thứ Năm, 08/03/2012, 10:47 (GMT+7)

Lời người dịch: Quân y Cộng hòa Pháp có lịch sử trên 300 năm phục vụ và xây dựng, trải qua hai cuộc chiến tranh thế giới trong thế kỷ XX, tiến hành nhiều cuộc chiến tranh chiếm đoạt thuộc địa trên các châu lục Á, Phi, Mỹ Latin… trong các thế kỷ XVIII, XIX, XX. Ngày nay, Pháp lại là một trong những nước có nhiều tham dự trong các cuộc chiến tranh (hoặc can thiệp trực tiếp, hoặc làm nhiệm vụ nhân đạo), chẳng những tích lũy nhiều kinh nghiệm phong phú và đa dạng trong các lĩnh vực y học quân sự, mà ngay cả trên những lĩnh vực y học khác như y học nhiệt đới, lại có ngành bệnh học khá đặc thù: bệnh chỉ có ở nước ngoài (maladies exotiques)… Quân y Pháp sau nhiều lần thay đổi nhiệm vụ và tổ chức, từ gần 100 năm nay được Quốc hội và Chính phủ Pháp giao quyền tự quản (autonomie), tuy không là binh chủng chiến đấu, nhưng có nhiều quyền hạn và mang tính chiến đấu như một ngành cần vụ đặc biệt.

Bản dịch từ website mang tên truy cập nhằm cung cấp một tổng quan cận cảnh cho người đọc trong việc theo dõi động thái quân y nước ngoài, góp phần xây dựng sáng tạo có chọn lọc nhiệm vụ và tổ chức quân y Việt Nam trong thời hội nhập, trong đó quân y là một trong 5 hướng ưu tiên hợp tác được ghi nhận trong các cuộc họp khu vực ASEAN và ADMM+ năm 2010.

1. Tổ chức bảo đảm quân y

1.1. Bảo đảm quân y trong chiến dịch:

Bảo đảm y học là phải chăm sóc liên tục người bị thương từ khi bị thương đến khi khôi phục hoàn toàn. Phải triển khai hoạt động trong một dây chuyền liên kết, đặt dưới trách nhiệm của ngành quân y.

Dây chuyền liên kết này được tổ chức thành 4 bình diện trách nhiệm:

- Trạm quân y trong các đơn vị chiến đấu (thực hiện các động tác cấp cứu, hồi sức).

- Các đội phẫu thuật (thực hiện các phẫu thuật cần thiết cứu sống sinh mạng và hạn chế di chứng vết thương).

- Cứu chữa thương binh tại chiến trường trong khuôn khổ Error! Bookmark not defined..

- Cứu chữa cần vận chuyển y học và cứu chữa cuối cùng, phục hồi chức năng được thực hiện trong các bệnh viện-huấn luyện tại Pháp.

Tổ chức một dây chuyền tiếp tế thuốc, vật liệu y tế, máu và oxy cần thiết cho hoạt động của tất cả các tổ chức quân y được triển khai xa lãnh thổ chính quốc Pháp, (nước Pháp còn có chủ quyền trên một số vùng ngoài châu Âu).

Một y sĩ (đã tốt nghiệp đại học y, có quá trình đào tạo tương đương một bác sĩ của Việt Nam) được bổ nhiệm vào chức vụ thủ trưởng quân y liên quân (chủng) tại mỗi chiến trường ngoài lãnh thổ Pháp. Y sĩ này còn là cố vấn các vấn đề quân y cho các tư lệnh và bộ tham mưu chiến trường và có quyền hạn sử dụng điều động mọi phương tiện quân y trong các quân chủng.

1.2. Ban tham mưu quân y chiến dịch (L’état major opérationnel: EMO):

EMO được thành lập năm 2009, chuyển từ Phòng Hành quân thuộc Tổng cục Quân y. Việc hình thành tổ chức này được ghi nhận theo khuôn khổ cải tổ bộ chỉ huy chiến lược sẽ họp tại Balard vào năm 2014 cho mọi trung tâm của lĩnh vực chiến dịch/hành quân.

Một EMO làm việc trong Trung tâm hoạch định và điều hành chiến dịch của Bộ Tham mưu các quân chủng. Danh xưng của EMO được mã hóa theo các chữ cái. Chữ M (medical) được ghi nhận là mã của quân y quân chủng.

Kết cấu cơ quan EMO gồm: 1. quân lực; 2. trinh sát; 3. lãnh đạo; 4. bảo đảm; 5. kế hoạch hóa; 6. các hệ thống thông tin và liên lạc; 7. đường lối; 8. tài chính; 9. các hoạt động dân sự, quân sự (cũng như trong hợp thành Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương).

Cơ quan EMO quân y được đánh số từ 1 đến 9, trong đó: M1 phụ trách việc lãnh đạo nâng cấp nhân sự; M2 phụ trách việc đánh giá những rủi ro trong y học; M3 lo việc chuyển thương chiến lược và M4 phụ trách phân phối các sản phẩm y tế trong các chiến dịch ngoài lãnh thổ.

1.3. Chuẩn bị cho chiến dịch ngoài lãnh thổ (OPEX):

Trung tâm chuẩn bị chiến dịch ngoài lãnh thổ của quân y được thành lập năm 2003 trong Trường Quân y tại Lyon-Bron. Nhiệm vụ của trung tâm này là:

- Bảo đảm những công việc tập sự cho OPEX.

- Cung cấp thông tin cần thiết và cập nhật nhất cho các nhân viên quân y thuộc 3 quân chủng đi làm nhiệm vụ chiến dịch.

- Là trung tâm về dữ liệu quân y trong OPEX.

2. Đơn vị quân y trong chiến dịch

Trong một số chiến dịch cần thiết phải triển khai một đơn vị phẫu thuật nhẹ. Trên thực tế, 75% thương binh tử vong trong chiến đấu là hệ quả của những trường hợp bị chảy máu mà không được băng ép hoặc không được đặt dây cầm máu. Những trường hợp này có thể được cứu sống, nếu ngay trong giờ đầu họ được phẫu thuật viên săn sóc.

2.1. Module phẫu thuật khẩn cấp:

Gọn nhưng hoàn chỉnh, module phẫu thuật khẩn cấp cho phép thực hiện tối đa 5 trường hợp cần can thiệp phẫu thuật cứu sống tính mạng thương binh. Module có chức năng tăng cường tạm thời cho một khu vực chiến đấu của cuộc hành quân/chiến dịch hoặc cho một hạm tàu khi có quyết định tiến công trên biển.

Module phẫu thuật khẩn cấp không có khả năng thu dung điều trị như bệnh viện hoặc thực hiện hồi sức hậu phẫu. Những công việc phẫu thuật tại đây cần được nối tiếp ngay một cuộc chuyển thương sớm. Theo quan niệm sử dụng này, module phẫu thuật khẩn cấp không gắn liền với đội phẫu thuật.

Thành phẩn module phẫu thuật khẩn cấp gồm có: 1 phẫu thuật viên nội tạng, 1 bác sĩ gây mê hồi sức, 2 y tá chuyên khoa, 4 m3 vật tư y tế có trọng lượng dưới 1 tấn (những dung lượng này có thể chuyển tải bằng trực thăng và thả hàng trên mặt đất hoặc mặt biển). Module phẫu thuật khẩn cấp có khả năng triển khai trên máy bay C130.

2.2. Trạm quân y:

Trạm quân y là cấu trúc quân y nhỏ nhất triển khai trên chiến trường.

Trạm quân y nằm trong tổ chức các đơn vi chiến đấu để thực hiện công tác bảo đảm quân y. Trạm quân y có 1 y sĩ (tốt nghiệp đại học y khoa), 1 y tá và 5 tải thương/cứu thương.

Người y sĩ có mặt gần gũi với các chiến đấu viên cho phép họ thực hiện những săn sóc khẩn cấp cho chiến đấu viên bị thương.

Việc thực hành y học “tuyến trước” này có đặc điểm dễ bị cô lập và có khi phải làm việc trong môi trường thù địch.

Vật tư y tế của trạm quân y cho phép tự chủ việc cứu chữa cho 150 người trong 15 ngày.

2.3. Đội phẫu thuật:

Đội phẫu thuật được triển khai trên mặt đất nhằm thực hiện công việc hồi sức và những hoạt động phẫu thuật cứu chữa sinh mạng thương binh và ổn định thương binh trước khi vận chuyển.

Đội phẫu thuật có nhiệm vụ bảo đảm can thiệp phẫu thuật cho hơn 1000 người có khả năng bị tổn thương ngẫu nhiên. Đội phẫu thuật còn được sử dụng bảo đảm cho một đơn vị quân sự có trách nhiệm di chuyển những người thuộc quyền quản lý.

Đội phẫu thuật là một tổ chức gọn nhẹ, có thể không vận. Đội thường triển khai trong lều bạt dã chiến, hoặc sử dụng những công trình cơ sở tại chỗ, nhất là khi chiến dịch được triển khai trong một vùng nào đó. Đội phẫu thuật phải được triển khai nhanh trong phạm vi 3 giờ và có khả năng tự bảo đảm chuyên môn trong 48 giờ đầu tiên. Đội có khả năng điều trị 8 thương binh mỗi ngày. Đội phải bảo đảm “cuộc sống thông thường” (nuôi dưỡng, năng lượng, truyền tin) và được lực lượng quân đội bảo vệ.

Đội phẫu thuật có 1 khối phẫu thuật, 1 phòng hồi sức và 12 giường bệnh. Việc lồng ghép những module phụ gia cho phép tạo lập một cấu trúc nội, ngoại khoa nặng nề hơn nhưng thích hợp trong trường hợp cần triển khai những nhiệm vụ nhân đạo. Ngoài những thiết bị X quang và labô, một bộ phận nội khoa sẽ bảo đảm cho việc khám bệnh trước khi nhập viện.

Thành phần đội phẫu thuật gồm có: 1 phẫu thuật viên ngoại khoa chỉnh hình, 1 phẫu thật viên nội tạng, 1 nhân viên gây mê hồi sức, 5 y tá, 3 hộ lý và 1 nhân viên quản trị.

5 đội phẫu thuật tăng cường cho các trung đoàn quân y được đặt tai Metz và La Valbonne; 1 đơn vi phẫu thuật trên hạm thuyền có thể đến tăng cường chất lượng cho 1 tàu hải quân có trang bị các khối phẫu thuật (chuyển vận bằng sà lan, tàu sân bay, những tàu phóng hỏa lực và tàu chỉ huy). Các kíp lần lượt vào vị trí báo động trong 1 tháng và sẵn sàng nhận nhiệm vụ sau 72 giờ.

2.4. Bệnh viện nội, ngoại khoa:

Bệnh viện nội, ngoại khoa (L’hôpital médicochirurgical: HMC) có thể được triển khai trong các lều có kết cấu kim loại-sợi, trong những module tiền chế hoặc trong một cơ sở có sẵn.

HMC có 1 hoặc nhiều khối phẫu thuật, có thiết bị chẩn đoán hình ảnh, 1 thiết bị quét (scanner) và 1 labô phân tích. HMC cũng có thể có 1 phòng khám chữa răng, các module phẫu thuật chuyên dùng trong phẫu thuật sọ não, nhãn khoa và tai mũi họng.

Dung lượng 1 HMC từ 20-150 giường. Nhân viên y học và cận y học lấy từ các bệnh viện-huấn luyện quân đội.

HMC do 1 y sĩ trưởng chuyên khoa thực hành bệnh viện có kinh nghiệm phục vụ chiến dịch phụ trách. Bệnh viện có 1 kíp điều hành bao gồm 1 nhân viên quản lý, 1 cán bộ y tế có trách nhiệm điều phối mọi công tác hộ lý. Có 120 nhân viên làm việc trong 1 HCM.

3. Chuyển thương.

- Các máy bay Falcon 50 et 900 của đội bay chính phủ được chuyển thành máy bay y dụng phục vụ các cuộc chuyển thương chiến lược từ một đội phẫu thuật (nhiệm vụ 2 - tương đương tuyến 2 của quân y Việt Nam) hoặc từ một HMC (nhiệm vụ 3) về các bệnh viện quân đội tại chính quốc.

Máy bay Falcon được sử dụng khi khẩn cấp hoặc định kỳ hoặc khi các các phương tiện không vận khác không đáp ứng được các yêu cầu chăm sóc thương binh, bệnh binh. Tùy theo tình huống, máy bay Falcon có thể chuyển 1 thương binh nặng hoặc 2 thương binh (trong đó có 1 thương binh nặng).

Kíp quân y gồm có: 1 tiếp viên hàng không, 1 bác sĩ, 1 y tá chuyên khoa cấp cứu hàng không và đương nhiên cần có 1 chuyên gia bệnh viện (chuyên ngành gây mê hồi sức, thần kinh, phẫu thuật thần kinh).

Máy bay Falcon thường thực hiện nhiệm vụ sau 3 giờ nhận được lệnh.

- Trực thăng: các loại trực thăng Puma và Cougar của quân chủng lục quân và không quân cũng như máy bay Caracat của không quân có thể được trang bị để nhận nhiệm vụ chuyển thương đường không chiến thuật.

Các chiến đấu viên bị thương được vận chuyển từ khu vực chiến đấu hoặc khu vực xa các cấu trúc quân y phù hợp về các cơ sở có cấu trúc bệnh viện (đội phẫu thuật, bệnh viện nội ngoại khoa) hoặc về một sân bay để rồi từ đó chuyển về chính quốc.

Máy bay trực thăng phù hợp cho việc cấp cứu ở những nơi khó tiếp cận, ngày cũng như đêm. Máy bay trực thăng còn có khả năng cấp cứu nạn nhân nhờ sử dụng một dây đeo hoặc một cây căng võng.

Kíp cứu hộ của trực thăng thường có 1 bác sĩ và 1 y tá.

- 11 máy bay vận tải C135-FR của không quân được trang bị để có thể tiếp nhận phức hợp MORPHEE (module chuyển thương có nguồn cung cấp năng lượng, được điều hòa nhiệt độ và các thiết bị kỹ thuật y khoa cần thiết, cho phép vận chuyển 12 thương binh nặng cần không vận đường dài). Máy bay này được khai thác sử dụng từ năm 2006.

Là phương tiện phục vụ hồi sức khi bay. MORPHEE có thể bảo đảm cho thương binh một trình độ săn sóc tương đương trình độ thực hiện điều trị tăng cường cấp bệnh viện, tạo cho kíp quân y một không gian làm việc phù hợp, cho phép thực hiện công việc săn sóc những trường hợp hồi sức nặng nhọc khó khăn.

Có 2 loại module: module nặng có khả năng thực hiện điều trị tăng cường, cho phép săn sóc thương binh nặng cần thực hiện hô hấp điều khiển và truyền dịch; module nhẹ có thể vận chuyển 2 thương binh nhẹ hơn cần truyền dịch. Các module này được cung cấp 2 cơ số (thuốc và dụng cụ y khoa) bảo đảm cho việc thực hành nhiệm vụ chiến dịch.

Kíp y khoa của MORPHEE có 4 bác sĩ, 5 y tá, 2 tiếp viên đường không, và tùy theo nhiệm vụ có thể có thêm 1 bác sĩ thần kinh, 1 chuyên gia về bỏng, 1 phẫu thuất viên và 1 sĩ quan liên lạc đối ngoại. Một kíp như vậy luôn luôn trong trạng thái thường trực.

Đã có 2 lượt chuyển thương MORPHEE được thực hiện trong năm 2008. Mỗi lần hoạt động như vậy chuyển được 11 binh sĩ bị thương. Ngày 18/3 khởi hành từ Kosovo và ngày 19-8 khởi hành từ Afghanistan tiếp ngay sau trận đánh phục kích tại Uzbeen. Tất cả các thương binh này sau đó đều được điều trị tại các bệnh viện ở Paris.

PGS. Phạm Văn Hựu
(Dịch từ www. defense.gouv.fr/sante)

Họ và tên:
Email:
Tiêu đề:
Mã xác nhận:

Nội dung
Gõ tiếng việt :    Off   Telex   VNI   VIQR
Các tin khác