Nghiên cứu - Trao đổi kinh nghiệm
Nhận xét kết quả bước đầu phẫu thuật cấy ghép implant nha khoa tại Bệnh viện 103
QĐND - Thứ Năm, 05/07/2012, 20:22 (GMT+7)

Tóm tắt: Nghiên cứu 9 bệnh nhân với 15 implant được cấy ghép (hàm trên 5 implant và hàm dưới 10 implant) tại Khoa Răng Bệnh viện 103, sử dụng implant của hãng Mis (Israel). Kết quả: sử dụng nhiều nhất là implant đường kính 4,2 mm (60%), dài 11,5 mm và 13 mm (80%). Chiều dày xương hữu ích chủ yếu trong khoảng từ 6-9 mm. Kiểm tra sau 3 tháng phục hình thấy tỉ lệ khôi phục sức nhai tốt đạt 93,3%.

abstract: We studied 9 patients with 15 implants (5 for upper jaw and 10 for lower jaw) at 103 Hospital Dental Department. The patients were treated by implant of Mis (Israel). Results: implant with 4.2 mm diameter were most used (60%). 11.5 mm and 13 mm length were most used (80%). Useful in bone thickness between 6-9 mm. After 3 months treatment the good results are 93.3%.

1. Đặt vấn đề.

Phục hồi răng sau mất răng là vấn đề hết sức cấp thiết và có ý nghĩa rất quan trọng nhằm khôi phục chức năng nhai cắn, thẩm mỹ và phát âm của người bệnh.

Trước đây, việc phục hồi các răng đã mất được thực hiện bằng cách làm răng giả tháo lắp hoặc răng giả gắn chặt, nhưng có nhiều nhược điểm như vướng, phát âm và ăn uống khó, phải mài răng… Do đó, người ta đã sáng chế ra phương pháp thay thế các răng đã mất bằng chân răng nhân tạo, tức là cấy vào xương hàm 1 trụ titalnium, trụ này sau đó sẽ tích hợp với xương hàm. Các bộ phận răng giả sẽ được gắn lên đó để tạo thành chiếc răng hoàn chỉnh, gọi là implant nha khoa. Răng giả được làm trên implant có những ưu điểm mà các phương pháp phục hình trước đây không có, như độc lập trên cung hàm, không tổn thương răng kế bên, có thể cấy được ở những vị trí mà hàm giả cố định không thực hiện được do mất giới hạn xa...

Trên thế giới, trụ implant hiện đại đầu tiên được Branemark cấy ghép năm 1965 tại Thụy Điển. Tại Việt Nam, trường hợp đầu tiên được cấy ghép implant là ở Bệnh viện Răng hàm mặt Trung ương thành phố Hồ Chí Minh năm 1994. Một số bệnh viện ở Hà Nội như Bệnh viện Răng hàm mặt Trung ương Hà Nội, Bệnh viện Việt Nam - Cuba, Bệnh viện Đống Đa, Bệnh viện Trung ương Quân đội 108... cũng đã và đang triển khai kỹ thuật này.

Khoa Răng Bệnh viện 103 đã thực hiện ca cấy ghép implant đầu tiên vào năm 2005. Từ đó, kỹ thuật cấy ghép và làm răng giả dựa trên implant nha khoa đã được ứng dụng trong điều trị phục hình cho bệnh nhân (BN). Xuất phát từ nhu cầu thực tiễn của Bệnh viện 103, chúng tôi thực hiện nghiên cứu này nhằm 2 mục tiêu:

- Nhận xét đặc điểm lâm sàng và X quang các trường hợp cấy ghép implant.

- Đánh giá kết quả phục hình cố định trên các implant đó.

2. Đối Tượng và phương pháp nghiên cứu.

2.1. Đối tượng nghiên cứu:

9 BN (với 15 răng) có đủ tiêu chuẩn để phẫu thuật cấy ghép implant và làm phục hình răng giả, điều trị tại Khoa Răng, Bệnh viện 103 từ tháng 6/2009-3/2011.

Tiêu chuẩn lựa chọn: BN từ 18 tuổi trở lên, bị mất răng có chỉ định cấy ghép implant; chiều cao xương có ích trên 8 mm, chiều rộng xương có ích trên 4 mm; khoảng mất răng đủ để phục hình (chiều cao liên hàm và chiều gần-xa khoảng mất răng tối thiểu 6 mm).

Loại trừ những BN có độ há miệng dưới 3 cm, BN mắc các bệnh mạn tính, không đủ sức khỏe phẫu thuật, BN không đồng ý tham gia nghiên cứu và không có điều kiện theo dõi sau điều trị.

2.2. Phương pháp nghiên cứu:

Mô tả cắt ngang, tiến cứu.

- Trước phẫu thuật, BN được khám lâm sàng, chụp phim CT.scanner, đánh giá độ tích hợp xương bằng chụp phim panorama.

- Sử dụng kỹ thuật cấy ghép 1 thì hoặc 2 thì, có hoặc không ghép xương, phục hình muộn từ 3-6 tháng. Với BN phẫu thuật 1 thì, có thể lấy dấu làm răng giả ngay; các BN phẫu thuật 2 thì được lắp healing abutment, sau 1 tuần lành vết thương mới lấy mẫu làm răng giả.

- Đánh giá kết quả cấy ghép và phục hình răng:

- Xử lý số liệu bằng phần mềm EPI INFO 6.04 và SPSS 12.5.

3. Kết quả nghiên cứu và bàn luận.

3.1. Phân bố BN theo tuổi, giới (n = 9):

Tỉ lệ BN nam (66,7%) lớn hơn BN nữ (33,3%), đa số BN trong độ tuổi từ 30-45 (66,7%).

3.2. Phân bố răng được cấy ghép implant (n = 15):

Nhóm răng hàm (cả hàm trên và hàm dưới) được cấy ghép nhiều nhất với 12/15 implant, trong đó răng hàm lớn hàm dưới là 7/15 implant (66,7%). Không có trường hợp nào cấy ghép implant răng nanh.

Nghiên cứu của Phạm Thanh Hà [3], Đàm Văn Việt [4] và Bodard A.G [5] đều cho kết quả tương tự nghiên cứu này về phân bố răng được cấy ghép implant.

3.3. Nguyên nhân mất răng:

Nguyên nhân chủ yếu của hỏng, mất răng là biến chứng của sâu răng và bệnh lý tủy răng (9/15 răng, chiếm tỉ lệ 60%), tiếp theo là viêm quanh răng (4/15 răng, chiếm 26,7%). Kết quả này tương tự các nghiên cứu của Phạm Thanh Hà [3] và Đàm Văn Việt [4].

3.4. Chiều cao và chiều rộng xương hữu ích (n = 15): xem bảng đầu trang 45.

Chiều cao hữu ích xương hàm hàm trên trong khoảng 8-9 mm và với răng cửa hàm dưới là trên 13 mm. Chiều cao hữu ích xương hàm hàm dưới trong khoảng 10-13 mm với 7/15 vị trí (46,7%) và răng cửa hàm dưới trên 13 mm là 3/15 vị trí (20%). Chiều rộng xương hàm hữu ích vùng răng cửa là dưới 6 mm và chiều rộng xương hàm hữu ích vùng răng hàm chủ yếu trong khoảng từ 6-9 mm.

 

Như vậy, mối tương quan giữa chiều dài và chiều rộng hữu ích xương hàm rất có giá trị trong phẫu thuật cấy ghép implant. Đối với các vị trí có chiều cao ngắn, có thể sử dụng implant đường kính lớn để bảo đảm độ vững chắc. Kích thước này giúp chúng tôi lựa chọn implant dễ dàng hơn trong điều trị.

3.5. Kích thước implant (n = 15):

Implant được sử dụng nhiều nhất là loại có chiều dài 11,5 mm và 13 mm (mỗi loại chiếm 40%) và có đường kính 4,2 mm (60%). Có 1 trường hợp sử dụng implant đường kính 6,0 mm (6,7%) và không có trường hợp nào sử dụng implant chiều dài 16 mm.

Kích thước chiều dài implant trong nghiên cứu của chúng tôi phù hợp với nghiên cứu của Tạ Tuấn Tú (sử dụng 91,1% implant có chiều dài 11 mm).

3.6. Độ vững chắc của implant và kết quả phục hình (n = 15):

3.6.1. Độ vững chắc và tích hợp xương của implant:

- Độ vững chắc của implant:

. Mức 30-40 N/cm2: 3 implant (20,0%).

. Mức 41-50 N/cm2: 11 implant (73,3%).

. Mức trên 50 N/cm2: 1 implant (6,7%).

- Khả năng tích hợp xương của implant sau cấy ghép:

15/15 implant (100%) tích hợp xương tốt hoặc trung bình. Sự tích hợp xương tốt dần theo thời gian sau cấy ghép. Số implant tích hợp xương tốt ở thời điểm 1 tháng sau cấy ghép là 9/15 (60%) và tăng lên thành 14/15 implant (93,3%) sau 3 tháng theo dõi.

3.6.2. Kết quả phục hình sau 3 tháng:

Sau 3 tháng cấy ghép, độ vững chắc của implant là 100% (93,3% phục hồi sức nhai tốt, không trường hợp nào kém vững). Kết quả này phù hợp v?i kết quả của Trần Thị Thanh Xuân (95,2%) và Đàm Văn Việt (95,65%).

4. Kết luận.

Nghiên cứu cấy ghép và phục hình 15 implant trên 9 BN, bước đầu chúng tôi rút ra kết luận:

- Đa số BN là nam giới (66,7%), trong độ tuổi từ 30-45 (66,7%). Nguyên nhân chủ yếu của mất răng là do biến chứng của sâu răng và bệnh lý tủy răng (60%).

- Chiều cao hữu ích xương hàm hàm trên trong khoảng 8-9 mm, xương hàm hàm dưới chủ yếu trong khoảng 10-13 mm và răng cửa hàm dưới trên 13 mm. Chiều rộng xương hàm hữu ích răng cửa chủ yếu dưới 6 mm và răng hàm chủ yếu trong khoảng 6-9 mm.

- Implant dài 11,5 mm và 13 mm được dùng nhiều nhất cho răng cửa hàm trên và răng hàm hàm dưới (80%); implant đường kính 4,2 mm sử dụng nhiều nhất (60%).

- Tỉ lệ thành công đạt 100%, trong đó 93,3% phục hồi sức nhai tốt. Tuy nhiên đây chỉ là đánh giá ban đầu vì số lượng implant chưa nhiều và thời gian theo dõi chưa dài.

Tài liệu tham khảo:

1. Võ Văn Tự Hiến (2006), Tổng quan về cấy ghép răng căn bản, Viện Răng hàm mặt Quốc gia, tr. 3.

2. Trần Thị Thanh Xuân (2010), “Kết quả phục hình cố định trên cấy ghép implant ở BN mất răng lẻ tẻ”, Tạp chí Y dược học quân sự, tr. 206-208.

3. Phạm Thanh Hà (2011), Điều trị mất răng hàm lớn bằng phục hình implant, Luận án tiến sĩ y học, Đại học Răng hàm mặt, tr. 63-65.

4. Đàm Văn Việt (2008), Bước đầu đánh giá kết quả cấy ghép implant nha khoa trong phục hình răng cố định bằng hệ thống platon tại Viện Răng hàm mặt Quốc gia, Luận văn thạc sĩ y học, Đại học Răng hàm mặt, tr. 42-45.

5. Bodard A.G, Gourmet R et al (2006), “Dental implants in irradiated areas a series of 33 patients”, Rev stomatol Chir Maxillofac, 107 (3), pp. 137-142.

6. Liang X et al (2003), “Clinical procedures for treatment with osseointegrated dental implant”, J. Prosthet Dental, 1983 July, 50 (1), pp. 116-20.

ThS. Trương Uyên Cường (Bệnh viện 103)

Phản biện khoa học: TS. Lê Thu Hà
Họ và tên:
Email:
Tiêu đề:
Mã xác nhận:

Nội dung
Gõ tiếng việt :    Off   Telex   VNI   VIQR
Các tin khác