Tháng Giêng năm 1975, áp Tết Ất Mão thì đoàn phóng viên Báo Quân đội nhân dân của chúng tôi được lệnh “đi Bê”. Qua cách giao nhiệm vụ của Tổng biên tập Nguyễn Đình Ước, chúng tôi hiểu ta sắp đánh lớn.
Nhập nhoạng chiều Ba mươi Tết, chúng tôi đến Binh trạm 10-bên bờ sông Sê Ca Bốc. Nhận lán ở xong, tôi cùng Anh Ngọc và Hà Đình Cẩn ra sông tắm “tất niên”. Sáng mồng Một, các bãi khách trong cánh rừng xao động râm ran tiếng người, tiếng hát từ các máy thu thanh. Ở sân Binh trạm, các chiến sĩ tấp nập trang trí đón xuân mới. Hai cây bằng lăng to trước nhà khách được đẽo vỏ theo chiều đứng của cây để thành hình hai câu đối. Một chiến sĩ giã lõi pin làm mực, nắn nót viết dòng chữ:
Trọn một đời diệt thù dựng nước, ơn Người biển cả khôn đong
Bốn lăm năm chỉ lối đưa đường, nghĩa Đảng non cao khó sánh
Một số chiến sĩ viết bằng hồ loãng lên tấm ván thùng lương khô ghép lại rồi dùng đất đỏ, lá vàng rắc vào thành hàng chữ “Chúc mừng năm mới”. Người từ các bãi khách kéo đến mỗi lúc một đông. Bỗng một người đứng sững nhìn tôi rồi hỏi: “Nhà báo có nhớ tôi không?”. Tôi ngờ ngợ vì nhìn mặt thì rất quen nhưng không sao nhớ nổi tên. Anh nói ngay: “Tôi ở Đồn công an nhân dân vũ trang Trà Lý-Thái Bình. Tết năm trước, nhà báo về viết chuyện chúng tôi rà phá bom giải phóng cửa lạch đấy”. Ôi, tôi nhớ ra rồi! Anh là đội trưởng đội công tác cơ sở của Đồn. Anh ghé sát tai tôi: “Phân đội công an nhân dân vũ trang được lệnh vào bổ sung cho An ninh Trà Vinh là tỉnh kết nghĩa nhưng nay không vào Trà Vinh nữa mà nhập với đoàn An ninh xuống bổ sung cho An ninh vũ trang cực Nam Trung Bộ”.
Tôi nắm chặt tay anh và mời anh về lán chúng tôi ăn Tết, nhưng anh nằng nặc mời chúng tôi ra bãi khách ăn Tết với các chiến sĩ công an nhân dân vũ trang. Lán các anh ở bên con suối nhỏ. Không khí Tết thật rộn ràng. Một đống lửa to cháy rừng rực. Ba hòn đá to như ba chiếc ba lô làm đầu rau, một thùng phuy trăm lít đang sôi sùng sục. Anh Thái-Đoàn trưởng tiếp chúng tôi: “Ấy, các nhà báo đừng bất ngờ nhé. Chúng tôi đang mang cả quê hương ra trận đấy. Cả tháng hành quân chỉ ăn cơm nắm với ruốc thịt, anh em háo và xót ruột lắm, nên chúng tôi bàn nhau Tết này ăn cháo, vừa mát ruột vừa để nhớ nhà máy cháo quê nhà”. Tôi hiểu rồi! Những năm trước ở miền Bắc chỉ có Cửa hàng ăn uống Cầu Bo-Thái Bình bán các món cháo đặc sản: Cháo gà, cháo cá, cháo lòng, cháo sườn, cháo trai… Năm hào một bát “ô tô” ăn no và ngon. Ăn buổi sáng mong chóng đến buổi chiều vào ăn nữa. Thời ấy, ai đến vùng quê năm tấn cũng vào thăm “nhà máy cháo”. Những kỷ niệm ngày Tết ào ạt dồn về, anh cất lên làn điệu chèo tứ quý nghe rộn vang, tưng bừng giữa đại ngàn Trường Sơn, làm mọi người nao lòng nhớ Tết quê nhà: Cửa Trà hai lạch đã thông, Xuân nay xin cứ thong dong cánh buồm. Một chiến sĩ trẻ, tự giới thiệu tên mình là Quynh. Quynh có giọng nói rất duyên và nụ cười tươi tắn. “Em xin góp một chuyện ở quê em. Ngày Tết ông bà em thường kể cho chúng em nghe chuyện từ xa xưa. Quê em có nhiều đặc sản quý hiếm mà các nơi không có. Ngày Tết khắp nơi đổ về như trẩy hội mua lợn, gà, cam, cá... của quê em. Bởi thế mới có câu nói vần vè dễ nhớ. Em hát để các anh nghe, nhưng có một tiếng hơi tục, nên đến cái tiếng “húy” ấy thì em ứ ứ ừ, các anh tự luận ra nhé: Gà Tò, lợn Tó, vó Vạn Đồn; ứ ứ ừ… Cổ Am, cam Bích Thuận…”. Tất cả cười ồ lên làm rung nghiêng sàn nứa, cháo văng tung tóe. Vậy là cái ứ ứ ừ của Quynh đã làm mất toi mấy hăng-gô cháo Tết.
Ăn cỗ Tết xong, anh lính trẻ ấy dẫn đường đưa chúng tôi ra bãi khách số 2, mắt hấp háy nói rằng, ở đó có một chuyện đặc biệt còn hơn cả ứ ứ ừ. Và đúng là có một chuyện rất đặc biệt: Một đôi vợ chồng trẻ đều là bác sĩ Trường Đại học Y Thái Bình trong đoàn Y tế tăng cường. Anh tên là Thắng, quê Hà Tĩnh. Chị tên là Bế, quê Thái Bình. Anh chị tổ chức lễ cưới hôm 23-12-1974, thì ngày 28-12 mang ba lô hành quân vào chiến trường. “Giường hạnh phúc” của họ là hai chiếc võng vải bạt lồng vào nhau. Mỗi đầu võng hai sợi dây dù cũng bện xoắn vào nhau buộc vào hai thân cây bằng lăng. Trên võng, hai chiếc gối in những bông hồng đỏ thắm đặt song song. “Mái tăng hạnh phúc” màu trời xanh được che thấp mép xuống. Hai chiếc bánh chưng và mấy chiếc kẹo vừa nhận về để trên hai chiếc ba lô xếp vuông vắn. Đó là bàn tiếp khách của đôi vợ chồng trẻ. Anh Thắng tươi cười nói với chúng tôi: “Nếu có con, chúng em sẽ đặt tên cháu là Nguyễn Chiến Trường”. Chị Bế ngồi trên võng mở tập ảnh cưới ra xem, tủm tỉm cười…
Nhìn ra phía bờ suối thấy có cây gì trổ hoa, tôi đi nhanh đến, trèo lên bẻ hai cành. Màu hoa trắng ngà có phơn phớt tím nhạt gần giống như hoa dâu da và hương thơm thoang thoảng. Nhà thơ Anh Ngọc xé tờ giấy trong cuốn sổ rồi cùng với tôi và Hà Đình Cẩn viết mấy câu thơ tặng:
Mừng cánh võng hạnh phúc.
Nhành hoa Xuân Trường Sơn.
Đường dốc đèo mưa nắng.
Tình yêu nồng thắm hơn.
Hẹn ngày mai chiến thắng.
Vui Tết trên quê nhà.
Kể con nghe huyền thoại.
Võng hạnh phúc rừng xa.
Chúng tôi đặt nhành hoa và bài thơ lên hai chiếc gối trên võng. Hà Đình Cẩn đứng tần ngần, băn khoăn như thấy còn thiếu một thứ gì nữa. Bất ngờ anh mở túi đeo bên thắt lưng rút ra gói... “thuốc tăng lực” trong thùng lương khô 702 làm quà mừng đặt thêm lên đó. Chúng tôi và cả đôi vợ chồng trẻ nhìn nhau cười, rung cả cây rừng Binh trạm Trường Sơn.
Nhà văn Trần Hữu Tòng