Du lịch
Sóng gió Cửa Tùng
QĐND - Thứ Tư, 18/07/2012, 20:56 (GMT+7)

QĐND - Xế trưa, bóng đổ dài trên cát, tôi đặt chân tới địa đầu tuyến lửa, đất mẹ Vĩnh Linh. Trước mặt là mảnh làng thoai thoải triền đất đỏ, đang cố rướn mình lên thành đồi núi. Những chân ruộng hẹp cũng cố choãi ra, mong đón trọn luồng gió biển khô rít, mặn mòi, rắn rỏi. Ruộng của làng vốn bùn pha cát, nước ruộng chan hòa chua ngọt, úng ngập, hạn khô. Dư vị khó quên như bát canh tập tàng, còm cõi mỗi khi mùa chắt chắt kéo nhau về tụ hội. Tất cả pha trộn, khoác lên trên mình làng một tấm áo có vẻ phì nhiêu, màu mỡ nhưng khó giấu nổi sự cằn cỗi, xác xơ. Không quá xa, cũng không quá gần, con sông Bến Hải trầm lắng, thì thầm chảy qua đôi bờ Hiền Lương. Nhà văn Nguyễn Tuân gọi đôi bờ Bắc Nam này là “Cầu Ma”, có lẽ vì cái sự kì quặc của lịch sử ám vào thân phận nó.

Từ lối rẽ trên đường Quốc lộ 1, xuống Hồ Xá lòng bỗng chộn rộn những nghĩ suy. Hồ Xá xanh hiện thực một màu khát vọng. Trong tâm tưởng, ngày ấy chỉ thấy một vùng gạch vụn, đất đỏ khét lẹt mùi bom, nồng nặc thuốc pháo bên kia giới tuyến dội qua. Người lính hành quân, nhấp nhổm đội hình, mò mẫm trên đoạn đường chập choạng, cuống quàng sáng tối. Cô giao liên Vĩnh Linh đi nhanh hơn chạy, đôi chân trần trắng nõn, dào dạt sóng Cửa Tùng. Em trọ trẹ giọng địa phương, sao hồn nhiên, mộc miên đến thế. Những chiến binh tìm về trận đánh, cứ lặng lẽ tìm về kỷ niệm, họ già rồi, em đâu còn trẻ nữa. Bến đò Tùng Luật xưa, những cô dân quân, các cụ chèo đò đưa anh sang sông đêm ấy, cũng chỉ gặp một lần rồi chiến tranh kéo đi biền biệt. Đường xuống bến đò, dứa gai mai phục thành lũy, thành hàng, soàn soạt cào cấu, xé toạc bờ gấu, bám víu chân anh. Bây giờ, cách vài quãng lại gặp hàng rào rứa gai sắc bén, cắt tỉa gọn gàng, bài trí rất cảnh quan.

Biển Cửa Tùng, nhìn từ địa đạo Vịnh Mốc.

Dừng chân, xin mẹ Vĩnh Linh bữa cơm rau. Mẹ đón tôi, như đứa con dỗi hờn biệt tăm, giờ trở về bên đất mẹ bao dung. Ngôi nhà nhỏ, tường vôi xám nhạt, màu cháo lòng, rêu phủ mái thành từng mảng bám, khô đét dưới cái nắng khát cháy đầu mùa. Khu vườn rộn tiếng chim, cối đá tựa mình nơi góc cột, hương sắn mẹ xay vẫn luyến lưu thân thể, chua đến nao lòng. Đầu hồi, bầu hồ lô, rỗng ruột được mẹ xếp cẩn thận, những trái bầu từng đựng nước giải khát, đậm nghĩa tình quân dân. Mẹ thương con đường xa vất vả, bó rau khoai chẳng bõ bèn gì, nhắc con dâu tất tả ra chợ, vơ vội mớ sò níu giữ chân tôi. Cái chợ trời sát biển, nghiêng ngả mái chòi, gió thốc phần phật tấm bạt che. Theo chồng về đất Vĩnh Linh mưa dầm, nắng gió này, dường như chất muối mặn, thủy chung đã thấm dần trong ánh nhìn, bàn tay, bờ vai, nụ cười của chị. Chị khoe: “Bữa ni có Trang nên cá to dễ sợ”. Một bữa cơm, đúng tinh thần “dân vận”: Rau khoai luộc, cá trích kho, cá nục hấp, măng chua cá trích. Dư vị của biển cả, chân chất trong từng sự cởi mở, lắng lo của mẹ. Giữa trưa, dúi mấy củ khoai luộc, mẹ tiễn con tiếp tục cuộc hành trình.

Tới Vĩnh Giang, bần thần trước bãi sông, quần quật suốt một thời khói lửa. Anh lính một lần vượt sông nhưng người chèo đò hàng chục lần vững tay lái trong đêm. Mặc mưa bom chớp lửa, đò lần tìm ra đảo Cồn Cỏ, đưa gạo, tải đạn, tiếp thêm niềm tin đất liền cho tiền tiêu sóng gió. Mỗi chuyến đi, trở về là còn hoặc mất. Ở bến đò Tùng Luật này, các mẹ, các chị nghẹn ngào, nức nở, kìm nén cảm xúc, trắng đêm tắm rửa khâm liệm cho liệt sĩ, băng bó thương binh từ bờ Nam đưa ra. Bao nhiêu ngày đêm, bến sông này chứng kiến những đứa con chết trẻ. Người Vĩnh Linh đợi chờ, mong ngóng người đi trên những chuyến thuyền ra đảo, những đứa con đánh giặc phía Dốc Miếu trở về. Chưa đầy nửa tầm pháo nhưng bấy nhiêu làng ngóng trông vời vợi, hun hút, xa xăm. 

Nắng đầu mùa bỏng rát, mon men theo dọc con đường làng, nhắm hướng đông, Cửa Tùng lồng lộng gió. Làng vẫn dúm dó, lom khom. Nhà cửa thưa thớt, cát trắng triền miên, một màu bôi xóa. Một thời bom pháo, rồ dại đốn ngã khoảng rừng phi lao, thông reo chắn cát. Bầm dập nhưng không chết, chúng bật chồi sống lại, gan lỳ, cục mịch, trân trân thách thức sóng và gió. Rau muống biển bò loang, trổ hoa tím hiền lành những vết sẹo, trên nền cát trắng khỏa lấp vết thương. Không đồi núi, rừng cây, chỉ có cát và những khoảng trống phủ nhận. Bộ đội, du kích vẫn bám trụ, nương náu, sinh sôi. Đất trời, sông biển vần vũ cùng mưa bom, bão đạn. Người lính trở về mang theo di chứng, quá khứ đồng vọng không một tiếng rên la. Những ngày tháng oai hùng, chỉ còn lại trong câu chuyện rỉ rả bữa cơm chiều.

Trời buông nắng, lả lơi phía sau lưng. Biển ngời xanh trước mặt, sóng trườn lên những mỏm đá, mơn trớn, tình tứ như cung phụng nữ hoàng. “Có cơn lốc ngàn lần dữ dội, cây không đổ, nhà không xoay, không có mưa rơi mà cơ hồ tan biến hết”. Cơn lốc chiến chinh, mang tên nỗi nhớ, màu tháng năm. Có lẽ nào tất cả đã lùi xa, Cửa Tùng thôi nghẹn ngào con sóng vỗ. Ta tạm quên đi những quặn lòng, lụi tắt để tìm lại tóc nữ hoàng buông xõa, vòng tay ngọc ngà, êm ả khúc hát ru. Dường như, đâu đây tiếng thời gian vỗ nhịp, màu đất đỏ viền theo bờ cát, hàng dương xanh quạt mát bàn chân, giếng khơi trong ngọt mát đợi chờ, dừa tỏa bóng viết lên dòng tâm sự... Chẳng có tác phẩm văn học, nhà văn, nhà thơ nào nói hết được nỗi bi tráng của Quảng Trị. Mỗi người, chọn cho mình một tọa độ để nhìn về mảnh đất này. Có lẽ vì vậy, chúng ta vẫn “mắc nợ” với nơi đây?

Trang Thái Hà

Họ và tên:
Email:
Tiêu đề:
Mã xác nhận:

Nội dung
Gõ tiếng việt :    Off   Telex   VNI   VIQR
Các tin khác