 |
|
Đêm giao thừa Nhâm Dần 1962, Bác Hồ đến thăm giađình bà Đỗ Thị Tín, một người gánh nước thuê,ở ngõ 16A Lý Thái Tổ, HàNội (Ảnh TL) |
Đón xuân Bính Tuất 1946, xuân độc lập đầu tiên, Bác Hồ đã vi hành đêm giao thừa, khai xuân cùng đồng bào Thủ đô. Ông Vũ Long Chuẩn, thư ký, cùng hai bảo vệ Nguyễn Hữu Văn và Nguyễn Văn Lý được vi hành cùng với Bác, kể lại:
...Sáng 1-2-1946, tức 30 tháng chạp Ất Dậu, Bác dặn anh em: “Chiều nay, thứ sáu, Bác cháu ta về nhà sớm hơn mọi ngày để đón Tết!”. Nghe Bác nói vậy, ai cũng vui; nhưng hơi bất ngờ...
Bác nói “về nhà” là về số 8 phố Vua Lê (Lê Thái Tổ) đối diện với nhà hàng Thủy Tạ bên hồ Hoàn Kiếm. Từ tháng 10-1945, hằng ngày Bác đến làm việc ở Bắc Bộ phủ, nhưng đêm thì về thường làm việc với lãnh đạo của Trung ương và nghỉ ở nhà này.
Chưa hết nạn đói năm Ất Dậu, vận nước đang “nghìn cân treo sợi tóc”, nhưng Bính Tuất là Tết Độc lập đầu tiên sau hơn 80 năm nô lệ, nên đồng bào cả nước rất phấn khởi. Bà con Thủ đô thì nghĩ đến Tết rất sớm, ngày 20-1-1947, tức mới 18 tháng chạp, lịch ghi “Đại hàn” mà nhiều nhà đã sửa soạn rồi. Bác cũng nghĩ sớm đến Tết, nhưng Bác chẳng có gì để chuẩn bị. Sáng chủ nhật, Bác “ở nhà” viết thư kêu gọi đồng bào cả nước nhân dịp Tết sắp đến. Thư Bác viết ngắn và cứ như Bác đang nói chuyện với mọi người, chắc đêm qua Bác nghĩ nhiều đến đồng bào và chiến sĩ: “Dân ta là một dân tộc giàu lòng bác ái. Trong lúc toàn quốc đồng bào ta từ giàu đến nghèo, từ già đến trẻ, ai cũng sửa soạn ăn Tết mừng Xuân. Tôi kêu gọi đồng bào và các đoàn thể làm thế nào để chia sẻ cuộc vui chung ngày Tết với những chiến sĩ oanh liệt ở ngoài mặt trận, những gia quyến các chiến sĩ, những đồng bào nghèo nàn,... sao cho mọi người đều được hưởng cái thú vui vẻ Tết Xuân đầu tiên của nước Việt Nam độc lập...”. Buổi chiều, viết thư gửi thanh niên và nhi đồng toàn quốc, lời Bác đã làm cho tuổi trẻ phơi phới sức xuân: “Một năm khởi đầu từ mùa xuân, một đời khởi đầu từ tuổi trẻ. Tuổi trẻ là mùa xuân của xã hội...”.
Chiều 30 Tết ấy, Bác tiếp mấy đoàn khách rồi “về nhà” sớm hơn thường lệ, không phải để đón Tết, mà Bác bảo đưa Bác đi thăm một số gia đình Tết nghèo, Tết khá và Tết sang; cách đi là bất ngờ đến, để Bác trực tiếp thấy được sự thật.
Nghe Bác chỉ thị, ai cũng rất lo việc bảo vệ cho Bác vi hành chúc Tết và đón giao thừa giữa phố phường. Một kế hoạch được triển khai gấp, nhưng thực tế Bác đã dạy anh em bài học nghiệp vụ bảo vệ. Bác nói: “Chỉ đi một xe, hai đồng chí bảo vệ, đó là cách giữ bí mật tốt nhất...”.
19 giờ, mấy Bác cháu lên chiếc xe cũ do anh Hà Ngọc Nguyên lái, hòa vào giữa phố xá. Tới ngõ Hàng Đũa, đầu phố Sinh Từ (nay là Nguyễn Khuyến), lần mò vào trong ngõ tối om, nên phải bật đèn pin, gõ cửa một căn nhà không nghe tiếng trả lời. Tiếng ho sù sụ của một người đắp chiếu phát ra từ chiếc chõng tre. Bác liền giơ tay ra hiệu để yên cho người ta nằm nghỉ...
- Thưa Bác, chủ nhà sốt, trán nóng lắm!
Bác bảo khẽ: “Kéo chiếu kín cho người bệnh”, rồi Bác cháu khép cửa lại, quay ra. Vừa lên xe đi tiếp, Bác nói khẽ như nói với riêng mình: “Ba mươi Tết mà không thấy Tết”, rồi dặn: “Khi về, nhớ cử người đến chăm sóc, thuốc men và mang cho người ốm chút gì ăn Tết”.
Vào tiếp một gia đình ở phố Hàng Lọng, gần ga Hàng Cỏ (nay là đường Lê Duẩn), gọi cửa thì có người thò đầu ra nhìn. Khi nhận ra Cụ Hồ, mọi người mừng quá, quýnh lên, kéo vội quần áo đang phơi trên dây thép chăng ngang nhà. Đây là gia đình một viên chức nghèo. Khi Bác hỏi thăm Tết nhất ra sao, gia đình thưa là cũng có nén nhang và nải chuối để cúng tổ tiên...
Khi tới phố Hàng Vải thấy đường vắng tanh, đèn điện cũng không sáng, nhưng khi gọi, cánh cửa một nhà vừa hé thì ánh điện sáng lóe. Nhìn vào, thấy lọ độc bình men trắng cao to, có vẽ cảnh màu xanh. Cành đào Tết cắm trong đó đầy hoa đỏ thắm, choán hết lối đi. Bên cạnh còn bày mấy chậu cúc hoa to, cánh màu vàng rực rỡ. Chậu quất tán to, quả sai chi chít, đầy như mâm xôi... Đây là một gia đình “Tết sang”.
Bác tới chúc Tết cố vấn Vĩnh Thụy (Bảo Đại) ở trong tòa nhà của viên đốc lý cũ (trên đường Trần Hưng Đạo ngày nay) rồi vào mấy nhà nữa, nhưng là các gia đình thương gia, quan lại cũ. Khi gọi cửa đều không thấy ai ra mở, Bác liền bảo: “Dân Hà Nội quen đón giao thừa quây quần trong nhà. Ta cũng về nhà mình thôi!”.
Tưởng Bác bảo về nhà kịp đón giao thừa, nhưng là để Bác thay quần áo do anh Cả (đồng chí Nguyễn Lương Bằng) mang đến từ sáng, cải trang để vi hành. Đội khăn xếp, mặc áo the, quần cháo lòng, chân đi giày vải Nam Định... mục kỉnh đeo trễ xuống trông Bác giống hệt một cụ đồ. Cháu (anh Chuẩn) thì mặc quần dài trắng, áo láng đen, chân đi dép da, tóc chải mượt, ra vẻ con nhà nền nếp... “Hai ông cháu cụ đồ” cuốc bộ tới đền Ngọc Sơn lúc sắp đến giao thừa, pháo đã nổ râm ran. “Ông”, “cháu” tay dắt tay, chen giữa đám đông, qua Tháp Bút, cầu Thê Húc, đền Ngoài, đền Trong... “Ông” dừng lại khá lâu chăm chú xem các dòng chữ trên những tấm bia, câu đối... làm “cháu” càng lo, dù trước lúc đi “cháu” không quên bí mật giấu khẩu súng vào trong áo, đề phòng bất trắc...
Khai xuân là phong tục thiêng liêng của người Việt Nam. Vi hành giao thừa về, Bác ngủ rất ít, vậy mà sáng mồng Một vẫn dậy rất sớm để khai xuân mùa xuân độc lập đầu tiên, càng thiêng liêng. Khi Bác bảo lấy giấy bút ra, anh em trong nhà quây quần chúc Bác năm mới mạnh khỏe, trường thọ. Bác chúc Tết anh em, rồi khai bút: “Hôm nay là mồng một Tết năm Bính Tuất. Ngày Tết đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ Cộng hòa. Tôi thay mặt Chính phủ, chúc đồng bào năm mới muôn sự tốt lành...”. Bác chúc đồng bào cả nước, chiến sĩ ngoài mặt trận, gia quyến các chiến sĩ ở chốn hậu phương năm mới vui vẻ, mạnh khỏe và thắng lợi. Bài chúc có cả mấy câu thơ kèm khẩu hiệu:
Trong năm Bính Tuất mới,
Mọi việc đều tiến tới!
Kiến quốc mau thành công!
Kháng chiến mau thắng lợi!
Việt Nam độc lập muôn năm!.
NGUYỄN ĐÌNH - TUẤN HẢI