Đã hơn 40 năm trôi qua, mỗi khi nhớ lại lần gặp Bác năm ấy, tôi lại thấy bồi hồi xúc động và luôn tự răn mình phải sống sao cho xứng đáng với danh hiệu người lính Cụ Hồ... đó là tâm sự của đồng chí Đặng Ngọc Chỉnh, nguyên Thuyền trưởng tàu phóng lôi, Đoàn 135 Hải quân.
Tôi có vinh dự 6 lần được gặp Bác, mỗi lần đều để lại những kỷ niệm không thể nào quên nhưng kỷ niệm sâu sắc nhất có lẽ là lần Bác về thăm đơn vị tàu phóng lôi chúng tôi tại đảo Vạn Hoa (Quảng Ninh) ngày 13-11-1962. Khi đó, đơn vị tôi là một trong lực lượng đột kích chủ yếu của Quân chủng Hải quân vừa hoàn thành đợt huấn luyện chiến đấu dài ngày. Được tin Bác tới thăm, mọi người đều rất phấn khởi, ra sức chuẩn bị mọi việc thật tốt để Bác được vui lòng.
Đúng 10 giờ sáng, chiếc trực thăng bay từ phía Nam tới từ từ hạ ánh xuống sân bóng. Bác bước ra trong bộ quần áo nâu quen thuộc và vui vẻ giơ tay chào mọi người trong tiếng hô vang “Hồ Chủ Tịch muôn năm!”.
Bác đề nghị được đi thăm cảng, thăm tàu. Thấy cảng sạch đẹp, các tàu đậu thành hàng ngũ chỉnh tề, trong tàu sạch sẽ, ngăn nắp, Bác tỏ vẻ hài lòng. Bác thăm tiếp trạm sửa chữa lắp ráp ngư lôi, nhà ăn, nhà bếp. Khi đến nhà ăn, nhìn thấy bữa ăn của bộ đội dọn ra còn thiếu rau xanh, Bác liền gọi cán bộ đơn vị và anh chị nuôi quân đến căn dặn:
- Các cô chú phải tổ chức cho bộ đội tăng gia tự túc rau xanh, cải tiến cách nấu nướng sao cho bộ đội ăn ngon, hết tiêu chuẩn, để nâng cao sức khoẻ.
Đi thăm doanh trại, qua phòng khách, các thủ trưởng đơn vị mời Bác nghỉ chân vào uống nước, nhưng Bác không vào mà ngồi ngay xuống bậc tam cấp. Vừa nghỉ, Bác vừa trò chuyện với cánh lính chúng tôi đang vây kín quanh Người. Đơn vị mời Bác và đoàn dùng cơm trưa nhưng Bác từ chối để về tàu Hải Lâm dùng suất cơm của mình do các đồng chí phục vụ mang theo. Bác đến đảo bằng trực thăng nhưng tàu Hải Lâm vẫn được điều động từ Hải Phòng ra để phòng khi Bác cần đi thăm các đảo. Tôi và đồng chí Võ Văn Trì được phân công chuẩn bị cầu tàu đưa, đón Bác lên xuống. Chúng tôi bố trí cho tàu Hải Lâm đậu tại một bến sát cảng để tiện cho việc lên xuống. Khi nâng tay Bác đưa Bác xuống tàu vì quá cảm động mà toàn thân tôi run bần bật, cảm giác như mình đang trong trạng thái mất trọng lượng. Xuống tàu, Bác ân cần thăm hỏi anh em thuỷ thủ tàu Hải Lâm, ăn cơm và đi nghỉ. Chúng tôi lặng lẽ lên mặt boong, im lặng, giữ yên giấc ngủ cho Người.
Hai giờ chiều, bộ đội tập hợp đội ngũ chỉnh tề trước cảng đợi Bác ra nói chuyện. Tôi và anh Trì lại được làm nhiệm vụ của mình, mỗi người giữ một tay đưa Bác lên bến. Chúng tôi đi theo Bác như hai đứa trẻ níu tay cha đi dạo mát, không còn khoảng cách giữa lãnh tụ và chiến sĩ. Tôi được nắm bàn tay Bác, cánh tay Bác, da thịt Bác mát nhưng mềm quá. Tôi thầm nghĩ da thịt như thế này chắc Bác yếu lắm và cảm thấy thương Bác vô hạn. Gần đến trước hàng quân, Bác bảo:
- Các chú buông tay để Bác nói chuyện với bộ đội.
Bác đi rồi chúng tôi còn đứng lặng vài giây mới trở về hàng ngũ. Trong buổi nói chuyện Bác khen đơn vị nhiều điều, cuối cùng Người căn dặn:
- Đảng và nhà nước đã giao cho các chú quản lý và sử dụng những phương tiện vũ khí hiện đại, các chú luôn nhớ rằng những thứ ấy phải đổi bao xương máu của nhân dân. Các chú phải bảo quản, sử dụng thật tốt, huấn luyện kỹ thuật thật thành thạo và luôn sẵn sàng chiến đấu, hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ mà Đảng và nhân dân giao phó. Các chú có làm được không?
Cả khối người đồng thanh đáp:
- Thưa Bác, được ạ!
Bác tươi cười chào khắp lượt rồi đi thẳng ra máy bay. Chúng tôi ùa theo tiễn Bác, lưu luyến, ai cũng muốn được đi gần Bác. Lên cầu thang máy bay, Bác còn quay lại giơ tay vẫy chào bộ đội lần nữa....
Thực hiện lời dạy của Người, đơn vị chúng tôi liên tục dấy lên các phong trào thi đua, nhiều năm liền là một đơn vị dẫn đầu Quân chủng về mọi mặt, nhất là về thành tích huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu, xây dựng duy trì nền nếp sinh hoạt chính qui. Đặc biệt là phong trào tăng gia tự túc rau xanh. Để thực hiện chỉ tiêu đề ra 10 kg/người/năm, tất cả cán bộ, chiến sĩ tập trung san lấp mặt bằng ven núi, xúc hết sỏi đá và than cục, gánh từng sọt đất, đốt cỏ lấy tro làm phân cải tạo đất, lên rừng chặt vầu, chắn suối dẫn nước tưới từ xa 4,5 km về. Hệ thống vườn rau to, nhỏ đủ cỡ đã hình thành, những luống rau đầu tiên lên xanh tốt và cho năng xuất khá, lúc đầu chỉ trồng rau muống và rau cải, sau phát triển đủ loại cà chua, xà lách, rau gia vị...
Có rau xanh bữa ăn của bộ đội được cải thiện rõ rệt, bệnh đường ruột giảm hẳn, quân số học tập và công tác bảo đảm cao. Những năm sau thực hiện không phải 10 kg mà lên tới 100- 200 kg/ người /năm, tăng gia trở thành thú vui của lính đảo.
Bùi Hương
(Theo lời kể của đồng chí Đặng Ngọc Chỉnh, nguyên Thuyền trưởng tàu phóng lôi, Đoàn 135 Hải quân).