Cương lĩnh 1991 với sự phát triển đường lối và nghệ thuật quân sự trong tình hình mới
QĐND - Wednesday, October 07, 2009 | 10:33 (GMT+7) printIn trang này

Tổng kết, bổ sung, phát triển Cương lĩnh 1991 về công tác quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc bao gồm nhiều vấn đề, trong đó đường lối và nghệ thuật quân sự chiến tranh nhân dân (CTND) bảo vệ Tổ quốc là một nội dung cốt lõi, quan trọng.

 Sau gần 20 năm thực hiện Cương lĩnh, qua bốn kỳ Đại hội Đảng (từ Đại hội VII đến Đại hội X), vấn đề đường lối và nghệ thuật quân sự CTND bảo vệ Tổ quốc đã có những bổ sung, phát triển cả về nhận thức, tư duy lý luận và thực tiễn.

Về nhận thức, tư duy lý luận:

Trong Cương lĩnh 1991, Đảng ta xác định đối tượng của cách mạng là “những lực lượng cản trở việc thực hiện mục tiêu đó, trước hết là các thế lực thù địch chống độc lập dân tộc và CNXH”1. Nghị quyết Trung ương 3 (khoá VII) đã cụ thể hoá thêm một bước về đối tượng cơ bản, lâu dài của cách mạng Việt Nam; đồng thời, dự báo âm mưu, thủ đoạn, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch bằng các tình huống chiến lược: "Diễn biến hoà bình" (DBHB); DBHB kết hợp với bạo loạn lật đổ; bạo loạn lật đổ kết hợp với lực lượng phản ứng nhanh; bao vây phong toả, tiến công hoả lực, tiến hành chiến tranh xâm lược cường độ trung bình. Bước vào giai đoạn mở rộng giao lưu, hợp tác quốc tế, trong các Nghị quyết Đại hội VIII, IX, X, nhất là Nghị quyết Trung ương 8 (khóa IX) về “Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới”, Đảng ta đã đưa ra nguyên tắc xác định đối tượng, đối tác của cách mạng Việt Nam: “những ai chủ trương tôn trọng độc lập chủ quyền, thiết lập và mở rộng quan hệ hữu nghị và hợp tác bình đẳng, cùng có lợi với Việt Nam đều là đối tác của chúng ta”2. Và “bất kể thế lực nào có âm mưu và hành động chống phá mục tiêu của nước ta trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc đều là đối tượng đấu tranh"3. Như vậy, xuất phát từ tình hình và xu thế phát triển của thời đại, nhất là tính chất phức tạp của cuộc đấu tranh giai cấp trong điều kiện mới, quan điểm về đối tượng, đối tác của cách mạng Việt Nam đã có sự phát triển; đây cũng là cơ sở để dự báo đối tượng của CTND bảo vệ Tổ quốc trong hoàn cảnh mới.

Về mục tiêu bảo vệ Tổ quốc, Cương lĩnh 1991 xác định: “Bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, lãnh thổ toàn vẹn của Tổ quốc, bảo vệ chế độ XHCN, sự ổn định chính trị, trật tự và an toàn xã hội, quyền làm chủ của nhân dân, làm thất bại mọi âm mưu và hành động của các thế lực đế quốc, phản động phá hoại sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta”4. Tiếp đó, các Nghị quyết của Đảng trong các kỳ Đại hội  đã cụ thể hoá, thể hiện ngày càng đầy đủ, sâu sắc, toàn diện, hoàn chỉnh hơn mục tiêu bảo vệ Tổ quốc. Đại hội X chỉ rõ: “Bảo vệ vững chắc Tổ quốc, độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ; bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ XHCN; bảo vệ an ninh chính trị, an ninh kinh tế, an ninh tư tưởng văn hóa và an ninh xã hội; duy trì trật tự, kỷ cương, an toàn xã hội; giữ vững ổn định chính trị của đất nước, ngăn ngừa, đẩy lùi và làm thất bại mọi âm mưu, hoạt động chống phá, thù địch, không để bị động, bất ngờ"5. Đây cũng chính là mục tiêu của CTND trong hoàn cảnh mới; là yếu tố quyết định khả năng tập hợp lực lượng, huy động sức mạnh, vận dụng phương thức tiến hành chiến tranh và phát triển nghệ thuật quân sự CTND trong điều kiện mới.

Kế thừa truyền thống chống ngoại xâm của dân tộc, quan điểm của chủ nghĩa Mác- Lê- nin, tư tưởng Hồ Chí Minh về lực lượng và sức mạnh bảo vệ Tổ quốc, trong Cương lĩnh 1991, Đảng ta khẳng định: “sự nghiệp cách mạng là của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Chính nhân dân là người làm nên thắng lợi lịch sử”6; “củng cố quốc phòng, giữ vững an ninh quốc gia là nhiệm vụ trọng yếu thường xuyên của toàn dân và của Nhà nước”7. Vì vậy, phải “không ngừng nâng cao giác ngộ và cảnh giác chính trị của nhân dân, xây dựng vững chắc thế trận QPTD, kết hợp chặt chẽ với thế trận an ninh nhân dân trong điều kiện mới, với những lực lượng nòng cốt tinh nhuệ”8. Các nghị quyết của Đảng qua các kỳ Đại hội đã không ngừng bổ sung, cụ thể hoá quan điểm này và luôn khẳng định: Sức mạnh bảo vệ Tổ quốc là sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, của cả hệ thống chính trị dưới sự lãnh đạo của Đảng; kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, sức mạnh của lực lượng và thế trận QPTD với sức mạnh của lực lượng và thế trận an ninh nhân dân... Kết hợp chặt chẽ kinh tế với quốc phòng và an ninh, quốc phòng và an ninh với kinh tế...; trong đó, Quân đội nhân dân và Công an nhân dân là lực lượng nòng cốt. Quan điểm về nguồn sức mạnh bảo vệ Tổ quốc trong các văn kiện Đại hội, nghị quyết chuyên đề của Đảng về quốc phòng-an ninh gần 20 năm qua là cơ sở bổ sung, phát triển lý luận về đường lối và nghệ thuật quân sự CTND bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.

Trong Cương lĩnh 1991 và các văn kiện, nghị quyết của Đảng qua các kỳ Đại hội, phương thức tiến hành CTND bảo vệ Tổ quốc được thể hiện nhất quán ở mục tiêu bảo vệ Tổ quốc; trong xây dựng nền QPTD, xây dựng thế trận QPTD, xây dựng LLVT ba thứ quân... Nội dung cơ bản của quan điểm tiến hành CTND bảo vệ Tổ quốc là: tiến hành CTND toàn dân, toàn diện, kết hợp đấu tranh quân sự với đấu tranh chính trị, kinh tế, ngoại giao, văn hoá, tư tưởng...; phương thức thực hiện là kết hợp chiến tranh nhân dân địa phương với chiến tranh bằng các binh đoàn chủ lực trong điều kiện mới.

Quan điểm, tư tưởng chỉ đạo của Đảng ta về nghệ thuật quân sự CTND bảo vệ Tổ quốc được thể hiện nhất quán trong Cương lĩnh 1991 và các văn kiện qua các kỳ Đại hội của Đảng: Bảo đảm từng bước xây dựng đất nước có tiềm lực quân sự hùng mạnh (cả tiềm lực vật chất và chính trị-tinh thần) và sẵn sàng huy động tiềm lực đó thành sức mạnh (lực lượng) hiện thực khi đất nước đòi hỏi; có một hệ thống lý luận quân sự tiên tiến chỉ đạo các hoạt động thực tiễn bảo vệ vững chắc Tổ quốc XHCN, ngăn ngừa, đẩy lùi, thủ tiêu nguy cơ chiến tranh và sẵn sàng đánh thắng các loại hình chiến tranh xâm lược có sử dụng vũ khí công nghệ cao, bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc; đồng thời, đánh bại chiến lược DBHB của các thế lực thù địch, bảo vệ vững chắc chế độ XHCN. Để thực hiện điều đó, phải: “Khẩn trương chỉ đạo xây dựng và ban hành các chiến lược quốc gia: Chiến lược Quốc phòng, Chiến lược An ninh và các chiến lược chuyên ngành khác”9.

Quán triệt quan điểm, tư tưởng chỉ đạo về đường lối và nghệ thuật CTND bảo vệ Tổ quốc của Đảng, trong thực tiễn, chúng ta đã đạt được những kết quả quan trọng.

Về chiến lược quân sự, đã cụ thể hoá âm mưu, thủ đoạn, phương thức hoạt động chống phá của các thế lực thù địch; xác định những tình huống chiến lược có thể xảy ra. Từng bước điều chỉnh, giảm quân số lực lượng thường trực, xây dựng lực lượng này theo hướng “cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại”, có quân số hợp lý “gọn, mạnh”; xây dựng lực lượng dự bị động viên “hùng hậu” và lực lượng dân quân, tự vệ “vững mạnh, rộng khắp”. Tiến hành điều chỉnh lớn về thế bố trí chiến lược của các LLVT; đồng thời, xây dựng các phương án, kế hoạch tác chiến phòng thủ bảo vệ Tổ quốc, tổ chức triển khai, chỉ đạo các đơn vị thực hiện đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Nghiên cứu phát triển phương châm chỉ đạo chiến tranh theo hướng phát triển tư tưởng chiến lược tiến công, chủ động bảo vệ Tổ quốc từ xa; thu hẹp không gian, rút ngắn thời gian chiến tranh, đồng thời sẵn sàng đánh dài ngày; đánh địch trên các môi trường, nhất là môi trường chiến tranh mới ( biển đảo, vũ trụ, điện từ...). Phát triển phương thức tiến hành CTND, nghệ thuật quân sự CTND bảo vệ Tổ quốc, trong đó nhấn mạnh đến sự phát triển của các phương thức đấu tranh vũ trang và phi vũ trang, cả về quy mô, hình thức, phương thức tiến hành. Nghiên cứu đề xuất các loại hình tác chiến chiến lược: đánh địch tiến công hoả lực đường không; tác chiến bảo vệ biển đảo, chống phong toả đường biển; tác chiến phòng thủ chiến lược; phản công chiến lược; tiến công chiến lược. Trong từng loại hình tác chiến chiến lược đã làm rõ những phát triển về khái niệm của các loại hình; đối tượng, mục tiêu, xác định một số vấn đề cơ bản về nghệ thuật tác chiến chiến lược trong điều kiện mới. Đây là cơ sở để tiếp tục nghiên cứu các nội dung tiếp theo của nghệ thuật tác chiến chiến lược, chiến dịch và chiến đấu đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc.

Trên cơ sở nghiên cứu về lý luận, đã tiến hành các biện pháp chuẩn bị nhân dân, đất nước, LLVT và chiến trường cho chiến tranh, phù hợp với những thay đổi hiện nay và trong tương lai gần. Đề xuất những giải pháp đồng bộ có tính khả thi về xây dựng tiềm lực quân sự, quốc phòng của đất nước trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, khoa học- công nghệ, an ninh, đối ngoại. Thực hiện tốt quan điểm kết hợp chặt chẽ kinh tế với quốc phòng, quốc phòng với an ninh, quốc phòng- an ninh với đối ngoại. Xây dựng các phương án tối ưu động viên công nghiệp cho quốc phòng, cho chiến tranh. Xây dựng và triển khai các kế hoạch chiến lược phòng thủ đất nước; tổ chức phân chia chiến trường; xây dựng các tuyến phòng thủ và khu vực phòng thủ, các căn cứ hậu phương (chiến lược) của toàn cuộc chiến tranh và trên từng hướng chiến trường; xây dựng LLVT ba thứ quân; ban hành Luật Quốc phòng... Đó là những việc mới đặt ra, đã và đang được thực hiện hiệu quả, từng bước hoàn thiện.

Về nghệ thuật chiến dịch, đã đi sâu nghiên cứu sự vận động của các quy luật và sự phát triển về nội dung, tính chất các loại hình chiến dịch; hoàn thiện các nguyên tắc, phương pháp chuẩn bị và thực hành, phương pháp tổ chức chỉ huy, hiệp đồng bảo đảm chiến dịch. Nghiên cứu công tác chuẩn bị và thực hành các loại hình chiến dịch, trong đó bổ sung một số đặc điểm mới của chiến tranh có sử dụng vũ khí công nghệ cao: không gian chiến dịch được mở rộng, đa chiều, chiều sâu chiến dịch lớn; cơ cấu lực lượng chiến dịch ngày càng phức tạp, chủ yếu tiến hành tác chiến hiệp đồng quân chủng, binh chủng, công tác chuẩn bị, bảo đảm và chỉ huy thực hành chiến dịch phức tạp hơn nhiều; hoạt động tác chiến sẽ diễn ra trên toàn bộ chiều sâu chiến dịch và trên mọi hướng; lực lượng tác chiến hai bên cơ động liên tục, tình huống chiến dịch thay đổi mau lẹ; tác chiến điện tử và chiến tranh thông tin sẽ diễn ra từ đầu và trong suốt quá trình chiến dịch... Trên cơ sở đó, đi sâu nghiên cứu, bổ sung, hoàn thiện các hoạt động chuẩn bị và thực hành các loại hình chiến dịch mà trước đây ta chưa tiến hành hoặc có tiến hành nhưng chưa nhiều, như chiến dịch trên biển, chống đổ bộ đường không, đường biển và chiến dịch phòng thủ của lực lượng chủ lực kết hợp với lực lượng khu vực phòng thủ trên địa bàn một tỉnh (thành phố) hoặc trên một hướng chiến lược.

Sau cùng là những bổ sung, phát triển về chiến thuật. Tận dụng những thành quả của quá trình phát triển kinh tế, tiến bộ của khoa học kỹ thuật, việc củng cố quốc phòng, tổ chức xây dựng và trang bị vũ khí, kỹ thuật của LLVT..., sức chiến đấu của các phân đội, binh đội, binh đoàn ngày càng được nâng cao. Chức năng, nhiệm vụ và khả năng chiến đấu của phân đội, binh đội, binh đoàn binh chủng hợp thành và các binh chủng, quân chủng cũng có sự bổ sung, phát triển cao hơn. Mặt khác, dưới tác động của vũ khí công nghệ cao và cách đánh của đối phương (dự kiến), tính chất, nội dung, các nguyên tắc, phương pháp chuẩn bị và thực hành trận chiến đấu cũng có những thay đổi, phát triển. Do đó, những nguyên tắc chiến đấu được áp dụng phổ biến trước đây, như giành và giữ quyền chủ động trong chiến đấu; tập trung lực lượng ưu thế; tiêu diệt địch, bảo tồn lực lượng ta..., nay đã được nghiên cứu, bổ sung, phát triển dưới tác động của các loại vũ khí hiện đại, công nghệ cao. Các trận chiến đấu trong điều kiện hiện đại sẽ diễn ra quyết liệt, tính biến động nhanh, yêu cầu về bảo đảm hậu cần, kỹ thuật rất lớn và phức tạp hơn trước nhiều, nên trong nghiên cứu khoa học, cũng như vận dụng vào thực tiễn huấn luyện bộ đội đã bổ sung, phát triển các hoạt động chuẩn bị và thực hành chiến đấu: nắm và đánh giá tình hình, hạ quyết tâm; lập kế hoạch và giao nhiệm vụ chiến đấu; tổ chức hiệp đồng và chỉ huy bộ đội chiến đấu, nhất là tiến công đánh địch đổ bộ đường không, đổ bộ đường biển, tổ chức chuẩn bị thực hành chiến đấu phòng ngự trên các loại địa hình ven biển, hải đảo, đồng bằng, đô thị; phát triển, hoàn thiện chiến thuật của các binh chủng, quân chủng phù hợp điều kiện địch sử dụng vũ khí công nghệ cao.

Bên cạnh những thành tựu đạt được trên mọi lĩnh vực, trong đó có bổ sung, phát triển đường lối và nghệ thuật quân sự CTND bảo vệ Tổ quốc, cũng còn những mặt hạn chế và vấn đề đặt ra cần giải quyết. Đó là, cần sớm hoàn thiện hai văn kiện: Chiến lược Quốc phòng và Chiến lược Quân sự, làm chỗ dựa để triển khai một cách có hệ thống, thống nhất những nội dung tiếp theo của đường lối và nghệ thuật quân sự CTND bảo vệ Tổ quốc. Nghiên cứu dự báo, làm rõ các hình thái chiến tranh mà địch có thể sử dụng khi tiến công xâm lược nước ta, làm cơ sở đề ra các giải pháp ngăn ngừa, sẵn sàng đánh thắng địch, không để bị bất ngờ. Tiếp tục nghiên cứu điều chỉnh tổ chức, biên chế, trang bị của LLVT, trọng tâm là quân đội nhân dân; đẩy mạnh nghiên cứu khoa học kỹ thuật quân sự, khoa học nghệ thuật quân sự và khoa học xã hội, nhân văn quân sự; đổi mới nội dung, chương trình, phương pháp huấn luyện bộ đội, giáo dục và đào tạo sĩ quan, đáp ứng yêu cầu đánh thắng mọi loại hình chiến tranh xâm lược. Nghiên cứu hoàn thiện kế hoạch tác chiến và đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển đảo trong tình hình mới. Nghiên cứu bổ sung, nâng cao chất lượng các tài liệu về tác chiến chiến lược, chiến dịch, chiến đấu trong CTND bảo vệ Tổ quốc, nhất là các hoạt động tác chiến chiến lược trong thời kỳ đầu chiến tranh; bổ sung, phát triển hoàn thiện hệ thống tài liệu về các loại hình tác chiến chiến lược và công tác chỉ huy-tham mưu, tổ chức lãnh đạo, chỉ huy điều hành, công tác bảo đảm, các hoạt động đấu tranh phối hợp trong tác chiến chiến lược; nghiên cứu các loại hình chiến dịch-chiến lược trong CTND bảo vệ Tổ quốc, nhất là chiến dịch-chiến lược đánh địch bạo loạn vũ trang kết hợp với can thiệp của các thế lực thù địch bên ngoài trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế. Đây là một đòi hỏi cấp bách trước yêu cầu mới của sự nghiệp củng cố quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc. Công việc này phải đầu tư nhân lực, tài lực, trí tuệ của cán bộ lãnh đạo, chỉ huy, cán bộ khoa học quân sự và đội ngũ cán bộ, giáo viên các học viện, nhà trường trong toàn quân. Những thành tựu về nghiên cứu, bổ sung, phát triển đường lối và nghệ thuật quân sự CTND bảo vệ Tổ quốc cần được kiểm nghiệm và hoàn thiện trong thực tiễn công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của quân và dân ta trong tình hình mới.

Đại tá PHẠM TRANG

_________

1- ĐCSVN- Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH. Nxb ST, H.1991, tr. 9.

2- Ban TTVHTƯ - Tài liệu học tập Nghị quyết hội  nghị  lần thứ tám BCHTƯ Đảng, khóa IX. Nxb CTQG, H. 2003, tr. 44.

3- Sđd, tr. 44.

4- ĐCSVN - Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH, Nxb ST, H.1991, tr.16.

5- ĐCSVN - Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb CTQG, H.2006, tr. 108 - 109.

6- ĐCSVN - Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH, Nxb ST, H.1991, tr. 5.

7- ĐCSVN- Sđd, tr. 16.

8- ĐCSVN- Sđd, tr. 16 -17.

9- ĐCSVN – Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb. CTQG, H. 2006, tr.111.