Một nguyên là giáo viên thể chất và một là giáo viên văn, hiển nhiên, kinh nghiệm về nghề giáo của họ rất phong phú. Ấy thế nhưng đoàn công tác chúng tôi không khỏi phải thốt lên “a, á, à, ạ” như cách giải thích của một đồng nghiệp đó là những cung bậc cảm xúc từ ngạc nhiên đến cảm phục.

A! Giáo viên vùng cao đâu có “giàu có” vật chất như đồng nghiệp đưới xuôi hằng nghĩ. Đã đành họ có 5 năm hưởng đồng lương thu hút vùng cao. Nhưng lương khởi điểm thấp cùng với sự xa xôi cách trở núi sông, đồng lương ấy cũng phải “khéo co” lắm lắm. Tôi nhớ mãi ánh mắt bồi hồi, thảng thốt của cô giáo Phạm Thị Tình quê ở Kiến Xương, Thái Bình khi nhắc đến cha. Bố chở con gái bằng xe máy từ quê lên xã Nậm Tăm (huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu) nhận công tác. Đường xa xôi quá, cuộc sống vất vả quá, bố thương con quá không cầm lòng được. Cô thưa rằng hãy để con được thử thách. Bố đành quay lại huyện mua 50 cân gạo vào xã để con “làm vốn” trước khi xuôi quê. Cô đâu ngờ đó là lần cuối cùng gặp cha. Tình cha ấm áp vẫn còn đọng lại trong tim con mãi đến suốt đời.

leftcenterrightdel
Cô Lò Thị Cương, giáo viên Trường Tiểu học Chiềng Hoa A (huyện Mường La, tỉnh Sơn La) nắn từng nét chữ cho các em học sinh.

Câu chuyện của những ông bố, bà mẹ đưa con là giáo viên mới ra trường lên vùng cao là phổ biến. Bởi tuổi đời của họ rất trẻ, nhiều người trước khi trở thành giáo viên vùng cao chưa từng bước ra khỏi tỉnh nhà. Cách đây chừng 10 năm, đường sá khó khăn, núi ngăn, sông chắn, cuộc sống vùng cao còn nhiều lạc hậu, không ít bậc phụ huynh than rằng đưa con lên đây biết bao giờ mới gặp, biết đâu “sống gửi thác về”. Nhưng giáo viên trẻ có cái hay là thích thử thách, khám phá. Phần lớn trong số họ đều đã vượt qua những khó khăn ban đầu, yên tâm công tác, trở thành những “nhân cốt văn hóa” của địa phương.

Á! Giáo viên vùng cao đa phần thuộc thế hệ 7X, 8X, nhiều thầy cô ở miền xuôi, qua câu chuyện tôi thấy rằng họ là những con người rất năng động. Hãy nhìn cách họ “bày trò” thu hút học sinh ở cái độ tuổi “dở ông dở bà” cũng rất thú vị. Vì rằng ở một số địa phương vùng sâu, vùng xa, phong tục tập quán đồng bào dân tộc thiểu số khuyến khích con lấy chồng, lấy vợ sớm. Trong cái “không khí” đấy, học sinh THCS cũng “trưởng thành” trong tình yêu sớm. Vậy là, thầy cô phải trở thành “cha mẹ” hướng dẫn cho các em những bài học giới tính. Giữ chân các em ở trường bằng những hoạt động văn nghệ, thể thao, hướng nghiệp. Trường Phổ thông Dân tộc bán trú THCS Tà Mung (Than Uyên, Lai Châu) còn có phong trào khoán ruộng để học sinh tự tăng gia sản xuất. Đúng là một công đôi việc, các em vừa gắn bó với trường, vừa giảm, tránh được những sự việc làm thiếu chín chắn.

À! Các thầy, các cô người có gia đình riêng, người còn độc thân, song tình thương của họ dành cho các em học sinh đều chan chứa, đong đầy. Chuyện thầy nuôi trò là thường gặp. Một lần đến thăm nhà ký túc của thầy cô trường tiểu học, chúng tôi thấy xung quanh nhiều cây bí ngô. Buột mồm tôi khen các thầy, các cô giỏi tăng gia. Các thầy bảo việc trồng rau cải thiện thì đúng rồi, nhưng ruộng này là trồng bí ngô cho học sinh. Học sinh rất thích ăn chè bí ngô. Trong óc tôi chợt hiện lên hình ảnh mấy đứa trẻ xúm xít quanh nồi chè bí ngô, mỗi đứa một thìa, ánh mắt vui thích… Tôi chưa từng được nếm chè bí ngô, nhưng đầu lưỡi bỗng cảm thấy ngọt ngào dư vị.

Các thầy, các cô ạ! Chúng tôi khâm phục thầy cô lắm. Dù không nói ra, song mọi người đều biết, các thầy, các cô đã hy sinh tuổi xuân cho thế hệ trẻ vùng cao. Từ tấm gương các thầy cô, chúng tôi đã viết vệt bài "Chuyện nghề, chuyện đời của những giáo viên cùng cao Tây Bắc" đăng trên Báo Quân đội nhân dân vào dịp 20-11-2017. Vui thay, vệt bài này đã được trao giải Nhất Giải Báo chí toàn quốc "Vì sự nghiệp giáo dục Việt Nam" lần thứ nhất năm 2018. Trong lòng chộn rộn niềm hân hoan lúc nhận giải, chúng tôi muốn ngân lên câu hát "Trên những nẻo đường của Tổ quốc xanh tươi, có những loài hoa thơm đậm đà sắc hương, có những bài ca nghe rạo rực lòng người, bài ca ấy, loài hoa ấy đẹp như em, người giáo viên nhân dân"...

Bài và ảnh: ĐÔNG HÀ