Chậu nước có những trái bồ kết bẻ vụn đặt ngay ngắn lên tượng đài tưởng niệm 10 cô TNXP hy sinh cùng ngày 24-7-1968. Làn khói nước vẩn vơ mang theo hương bồ kết hòa quyện cùng hương khói nhang, thoang thoảng tại khu mộ 10 nữ liệt sĩ. Nước trong chậu dần chuyển sang màu vàng sánh của bồ kết...

Từ xa, một cô gái trẻ, mái tóc đen dài đang thỉnh cầu dâng hương và thành khẩn đặt lên mộ các cô. Đã nhiều năm nay, chị Hà Thị Thanh Thủy (quận Hai Bà Trưng, TP Hà Nội) đều đặn đến Ngã ba Đồng Lộc nhân ngày giỗ của các cô TNXP để thắp hương tưởng nhớ. Trong những lễ vật chị dâng lên mộ có những chùm bồ kết do chị và bạn bè tự tay về quê ở Hải Phòng mang đến. Chị Thủy tâm sự: “Tôi được biết, phụ nữ thời xưa ai cũng gội đầu bằng bồ kết. Đặc biệt, là con gái ai cũng chăm sóc cho mái tóc của mình thật dày, dài và đen mượt. Các cô TNXP chắc hẳn cũng vậy. Bồ kết là là thứ “dầu gội” phổ biến nhất của ngày xưa. Tôi muốn dâng lên các cô một chút tấm lòng tâm linh, nhỏ thôi, nhưng đây có lẽ là thứ mà các cô TNXP  cần!”. Nói rồi chị Thủy mang những thùng bồ kết mà chị và bạn bè gom được, gửi lại Ban Quản lý Khu di tích Ngã ba Đồng Lộc, nhờ anh chị em nhân viên thay chị hằng ngày dâng lên mộ các cô.

leftcenterrightdel
Hai cây bồ kết tỏa bóng mát tại khu mộ 10 nữ liệt sĩ TNXP Ngã ba Đồng Lộc.

Ở Hà Tĩnh, nơi mọc nhiều bồ kết nhất đó là Hương Sơn, quê hương của chị Hồ Thị Cúc, một trong 10 nữ TNXP hy sinh tại Ngã ba Đồng Lộc khi đang làm nhiệm vụ san lấp hố bom vào ngày 24-7-1968. Ai sinh ra trong thời đất nước còn gian lao, chìm trong bom đạn ấy chắc hẳn đều coi bồ kết như dầu gội đầu bấy giờ, nghĩa là thiết yếu và bình thường. Cây bồ kết thân có nhiều gai. Mùa xuân, cây nở những bông hoa trắng, nhỏ xinh. Đến mùa hè lại cho ra những quả bồ kết xanh rồi khi chín chuyển thành một màu đen tuyền. Cây bồ kết chẳng cần nhọc công chăm sóc vẫn cũng lủng lẳng những chùm quả. Gội đầu bằng bồ kết, tóc có hương thơm nhẹ nhàng, mái tóc mượt mà, chắc khỏe lại chẳng ngứa gàu.

Nhiều người đến Ngã ba Đồng Lộc nhưng chưa hẳn đã để ý đến bên mộ của 10 nữ TNXP có hai cây bồ kết. Cành lá của nó đã che bóng cả khu mộ. Cây bồ kết này không tự nhiên mà mọc. Nó được trồng xuất phát từ một bài thơ của nhà thơ Vương Trọng. Trong một lần đến Ngã ba Đồng Lộc vào năm 1995, nhà thơ Vương Trọng đã xúc động viết nên bài thơ “Lời thỉnh cầu nghĩa trang Đồng Lộc”. Bài thơ lấy ý tưởng các nữ TNXP đang nói với dòng người đến thăm viếng, dâng hương. Trong đó có những câu thơ có sức lay động mạnh mẽ:

“Cần gì ư? Lời ai hỏi trong chiều

Tất cả chưa có chồng và chưa ngỏ lời yêu

Ngày bom vùi tóc tai bết đất

Nằm xuống mộ rồi mái đầu chưa gội được

Thỉnh cầu đất cằn cỗi nghĩa trang

Cho mọc dậy vài cây bồ kết

Hương chia đều trong hư ảo khói nhang”.

Tình cờ đọc được bài thơ này, Đại tá, Anh hùng LLVT Nguyễn Tiến Tuẫn, nguyên Tổ trưởng Tổ Cảnh sát giao thông Đồng Lộc, nguyên Giám đốc Công an tỉnh Hà Tĩnh đã rưng rưng xúc cảm. Việc đầu tiên là ông về huyện Hương Sơn tìm hai cây bồ kết đưa về trồng cạnh mộ 10 cô gái TNXP. Hai cây bồ kết giờ đã được hơn 30 năm tuổi. Cành lá của nó vươn dài, làm bóng râm mát cả khu mộ những nữ anh hùng TNXP trinh liệt.

Anh Đào Anh Tuân, Phó ban Quản lý Khu di tích lịch sử Ngã ba Đồng Lộc nói: “Chưa đến mùa bồ kết. Khi những chùm bồ kết chín, chúng tôi hái xuống, phơi khô. Mỗi ngày, nhân viên khu di tích sẽ nướng bồ kết cho thơm lên, bẻ vụn thả vào nước nóng và dâng lên phần mộ của các cô. Nhân dân và du khách cũng thường đưa bồ kết đến, tri ân và tưởng nhớ những người con gái đã hi sinh khi mái tóc còn tuổi xuân xanh”.

leftcenterrightdel
Chị Hà Thị Thanh Thủy (quận Hai Bà Trưng, Hà Nội) dâng bồ kết lên đài tưởng niệm 10 nữ TNXP.

Dưới tán cây bồ kết, chúng tôi trò chuyện cùng bà Nguyễn Thị Liên, cựu TNXP Đại đội 553, Tổng đội 55- P18 Hà Tĩnh về dâng hương tưởng nhớ đồng đội hi sinh tại chiến trường Đồng Lộc. Bà kể cho chúng tôi nghe về những ngày tháng làm nhiệm vụ tại ngã ba này. Thời chiến, Ngã ba Đồng Lộc nằm trên một khu đồi hẹp, thuộc phạm vi các xã Đồng Lộc, Trung Lộc, Xuân Lộc, Mỹ Lộc, Thượng Lộc của huyện Can Lộc. Nơi đây bao quanh là đồi trọc, một bên là ruộng nước sình lầy, mùa khô đường bụi đỏ, mùa mưa nước đọng, khi bị địch đánh phá đường lổm ngổm những hố bom. Mỗi mét vuông đất ở Đồng Lộc phải oằn mình hứng chịu 3 quả bom tấn. Bình quân mỗi tháng, địch đánh vào Ngã ba Đồng Lộc 28 ngày. Ngày đánh nhiều nhất 103 lần bay. Suốt ngày đêm không lúc nào Đồng Lộc ngớt tiếng bom.

Năm xưa, nữ thanh niên xung phong Nguyễn Thị Liên chân bước thoăn thoắt trên cung đường 15 qua Đồng Lộc làm nhiệm vụ, nhưng giờ bà lại bước chậm rãi trên con đường ra trận năm xưa, bà bồi hồi nhớ về những ngày tháng thanh niên sôi nổi. Hơn 70 tuổi, bà biết mình may mắn  hơn nhiều đồng đội, sống đợi đến ngày hòa bình. Bà Liên nhớ lại: “Ngày đêm, chúng tôi san lấp hố bom, bắc cầu, làm hầm, làm đường vòng, đường tránh cho xe chạy qua Ngã ba Đồng Lộc để đảm bảo thông đường, thông xe. Gian khổ, hi sinh nhưng thanh niên hồi đó vẫn lạc quan, yêu đời lắm. Bụi đường, bùn đất bám lên tóc vẫn cười nói, tích cực, chủ động làm việc. Có lúc rảnh rỗi đầu vừa gội xong, tóc đang còn lõng tõng nước đã phải búi lên để đi san lấp hố bom, mùi bồ kết thơm lây sang cả mũ cối”.

Đến bây giờ, bà Liên vẫn giữ thói quen gội đầu bằng bồ kết. Tuy mất thời gian một chút nhưng bà bảo, bao nhiêu thứ dầu gội, dầu xả tóc hiện đại cũng không thể sánh bằng.

50 năm sau Chiến thắng Đồng Lộc, những cựu chiến binh Trung đoàn Pháo cao xạ 210 (Thái Nguyên) đã trở lại với chiến trường chiến trường Đồng Lộc. Họ mang theo đau thương, mất mát và có cả những kỷ niệm đẹp. Cựu chiến binh Trần Ngọc Hồi, xúc động kể: “Trong một trận chiến bắn máy bay của địch, tôi đã bị thương nặng, nằm mê man. Một nữ TNXP đã chăm sóc tôi, đến khi tỉnh lại chỉ thấy thấp thoáng khuôn mặt mà không biết tên tuổi, địa chỉ, chỉ có mùi hương không lẫn vào đâu được. Đó là hương bồ kết”.

Nắng vàng chiếu xuyên qua những tán lá cây bồ kết nơi khu mộ 10 nữ TNXP. Thi thoảng, những chiếc lá nhỏ rơi nhẹ lên những ngôi mộ trắng. Đâu đây, mùi tóc còn vương bồ kết của những cô gái TNXP trên đường ra trận vẫn thoang thoảng, dịu dàng vương vấn một góc trời Đồng Lộc.

Ghi chép của HOÀNG HOA LÊ