Vị tướng dạn dày trận mạc Nguyễn Hùng Phong luôn trong lòng quân dân Việt Bắc không chỉ những ngày kháng chiến gian khổ mà cả thời bình. Trước khi nghỉ hưu, đồng chí là Phó bí thư Đảng ủy, Phó tư lệnh về chính trị Quân khu 1. Vì thế, quân dân Việt Bắc bàng hoàng, thương tiếc khi được tin đồng chí đã vĩnh viễn ra đi...

Sau Cách mạng Tháng Tám, từ phong trào cách mạng ở quê hương Ninh Bình, đồng chí Nguyễn Hùng Phong được tham gia lớp học quân sự bí mật tại Trường Quân chính Bắc Sơn ở Thái Nguyên. Nguyễn Hùng Phong là một trong số những học viên xuất sắc của trường lúc đó. Vì thế, sau khi ra trường, đồng chí được bổ nhiệm ngay làm chính trị viên đại đội khi mới tròn 18 tuổi.

Trong Chiến dịch Việt Bắc-Thu-Đông năm 1947, đồng chí là Chính trị viên Đại đội 5, Tiểu đoàn 2 (Tiểu đoàn Bình Ca), Trung đoàn 308 (sau này Trung đoàn 308 phát triển thành Sư đoàn 308), trực tiếp chỉ huy bộ đội chiến đấu với quân viễn chinh Pháp từ bến Bình Ca về huyện lỵ Sơn Dương (Tuyên Quang) rồi sang đánh chặn địch ở Đèo Khế, Văn Lãng, Đại Từ (Thái Nguyên).

Năm 1948, trên cương vị là Chính trị viên Đại đội 140, Tiểu đoàn Bình Ca, đồng chí Nguyễn Hùng Phong chỉ huy bộ đội tham gia Chiến dịch Đông Bắc. Đồng đội cũ của đồng chí kể rằng: Trong trận đánh đồn An Châu, đồn Đông Dương và trận tao ngộ chiến ở Khe Man Đông Bắc, quân địch bắn một loạt đạn về phía đội hình đồng chí đang chỉ huy. Tuy nhiên, may mắn thay, vì hôm đó trời rất lạnh, đồng chí mặc một chiếc áo khá dày, trước ngực lại đeo một chiếc xà cốt của chính trị viên. Nên sau loạt đạn ấy, đồng chí chỉ bị đứt dây đeo xà cốt và thủng áo. Thế nhưng, ở loạt đạn sau thì đồng chí bị thương ở phần đùi. Giữa chiến trường Đông Bắc khi ấy không có trạm cứu thương nên đồng chí được đưa ra tuyến sau vào rừng, phải mất mấy ngày sau, Nguyễn Hùng Phong mới được đưa về trạm cứu thương ở Bắc Giang trong tình trạng mất nhiều máu và dường như kiệt sức.

leftcenterrightdel
Trung tướng Nguyễn Hùng Phong (thứ ba, từ trái sang) trao đổi với các đồng chí lãnh đạo, nguyên lãnh đạo Quân khu 1.

Sau thời gian được điều trị, vết thương lành, đồng chí tìm lại cơ sở và tiếp tục hoạt động. Năm 1949, đồng chí làm Chính trị viên Đại đội Tô Vân, Tiểu đoàn 29, Trung đoàn 88, Đại đoàn 308 hoạt động chủ yếu trên Đường số 4, đánh các đồn địch ở Lạng Sơn: Nà Leng, Nà Han, bản Bê và trực tiếp chỉ huy bộ đội trong trận phục kích Lũng Phầy (Lạng Sơn) khiến kẻ thù khiếp sợ.

Trong Chiến dịch Biên giới năm 1950, trên cương vị Chính trị viên Tiểu đoàn 89, Trung đoàn 36, Đại đoàn 308, đồng chí chỉ huy bộ đội đánh địch ở Nà Pá, Khâu Luông và tiến công địch trên Đường số 4 thuộc huyện Thạch An (Cao Bằng). Vinh dự lớn của đồng chí trong Chiến dịch Biên giới là được gặp Bác Hồ tại hội nghị cán bộ giao nhiệm vụ chiến đấu bước vào chiến dịch và hội nghị tổng kết chiến dịch.

Năm 1952, với cương vị là Chính trị viên Tiểu đoàn 29, Trung đoàn 88, Đại đoàn 308, đồng chí chỉ huy bộ đội tham gia Chiến dịch Hòa Bình và bị thương lần hai. Là người trực tiếp tham gia Chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954 và Chiến dịch Hồ Chí Minh năm 1975, đồng chí đã chỉ huy bộ đội chiến đấu hàng trăm trận đánh trên khắp các chiến trường Tây Bắc, Đông Bắc, Quảng Trị, Đường 9-Khe Sanh… góp phần cùng với quân và dân cả nước giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước.

Như có duyên nợ với chiến khu Việt Bắc, năm 1981, đồng chí được cấp trên giao nhiệm vụ giữ chức vụ Phó bí thư Đảng ủy, Phó tư lệnh về chính trị Quân khu 1. Hơn 10 năm đảm nhiệm chủ trì về công tác Đảng, công tác chính trị ở quân khu địa đầu Tổ quốc (từ tháng 8-1981 đến tháng 12-1991), trong thời điểm vô cùng khó khăn do đất nước vừa đi qua cuộc chiến tranh, Trung tướng Nguyễn Hùng Phong luôn chủ động nghiên cứu, nắm tình hình, kịp thời tham mưu, đề xuất cùng với tập thể Ban Thường vụ Đảng ủy, Bộ tư lệnh Quân khu 1 triển khai thực hiện tốt mọi đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, của Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, nhất là trong hai nhiệm kỳ (1981-1985 và 1986-1990), đã cùng Đảng ủy Quân khu 1 xác định nhiều chủ trương, biện pháp lãnh đạo mang tính đột phá để quân khu hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ mà Đảng, Nhà nước và nhân dân giao phó. Đặc biệt, trong nhiệm kỳ 1986-1990, đồng chí đã cùng với tập thể Đảng ủy Quân khu 1 triển khai toàn diện đường lối đổi mới do Đại hội VI của Đảng khởi xướng, gắn với thực hiện đồng bộ việc đổi mới công tác huấn luyện, hậu cần, kỹ thuật, góp phần nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu của quân khu, củng cố thế trận quốc phòng toàn dân trên địa bàn trong giai đoạn cách mạng mới.

Tháng 1-1992, đồng chí được Đảng, Nhà nước cho nghỉ hưu trở về với gia đình, địa phương. Song không chỉ là người chồng, người cha, người ông mẫu mực trong gia đình, Trung tướng Nguyễn Hùng Phong vẫn giữ vững và phát huy tốt phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ, luôn dõi theo từng bước trưởng thành, phát triển của quân đội nói chung và Quân khu 1 nói riêng. Mặc dù tuổi cao, sức yếu, nhưng mỗi lần về thăm lại địa bàn Quân khu 1, đồng chí vui mừng trước sự trưởng thành và lớn mạnh của LLVT quân khu, nhất là trong thực hiện nhiệm vụ quân sự, quốc phòng, xây dựng Đảng bộ Quân khu vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao. Đồng chí còn tích cực tham gia nghiên cứu, biên tập về truyền thống lịch sử LLVT Quân khu 1, góp phần truyền thụ kinh nghiệm chiến đấu và giáo dục truyền thống cho các thế hệ cán bộ, chiến sĩ LLVT quân khu.

Trung tướng Nguyễn Hùng Phong đã ra đi, nhưng hình ảnh một vị tướng đảm nhiệm chức vụ Phó bí thư Đảng ủy, Phó tư lệnh về chính trị quân khu quyết đoán, sáng tạo trong lãnh đạo, chỉ huy; gần gũi gắn bó với từng đơn vị cơ sở không chỉ là dấu ấn in đậm trong tâm trí cán bộ, chiến sĩ LLVT Quân khu 1 mà còn đọng lại trong ký ức của nhiều người.

Thiếu tướng DƯƠNG ĐÌNH THÔNG

Bí thư Đảng ủy, Chính ủy Quân khu 1

 

Ảnh: KHƯƠNG DOÃN.