Cái thuở ban đầu…

Khi được hỏi vì sao bén duyện với xứ sở hoa Chăm-pa, Đại tá Tăng Xuân Ngọc trả lời: “Quân đội phân công đâu thì đi đấy thôi, chứ đâu lựa chọn. Tôi cũng không nghĩ là mình sẽ gắn bó đến cả đời như thế”. Sinh năm 1932, tại xã An Hòa, huyện An Lão, tỉnh Bình Định trong một gia đình truyền thống cách mạng, đi bộ đội khi 17 tuổi, có trình độ văn hóa cao thời ấy nên ông Ngọc được đào tạo ở lớp tình báo đầu tiên của Quân khu V. Năm 19 tuổi, ông tham gia quân tình nguyện Việt – Lào. Ông vẫn còn nhớ quân tư trang là hai bộ đồ mẹ may cho từ ở nhà, chiếc mũ nan đan bằng tre, bọc vải lên trên. Để có cái ăn, bộ đội phải xuống ở cùng nhân dân, làm rẫy, bắt cá, vừa học tiếng, vừa làm công tác vận động. Vũ khí là lời nói chứ không hề có súng đạn trong tay. Nhiệm vụ của ông là phụ trách tình báo khu Hạ Lào (thời đồng chí Phuxiphaxớt làm Khu trưởng, sau này là Thủ tướng Lào).

Năm 1954, hiệp định Giơ-ne-vơ được ký kết, Pháp rút khỏi Đông Dương. Ông Ngọc ở lại làm sĩ quan liên hợp chiến trường Lào, bên cạnh Ủy ban quốc tế. Với tầm nhìn xa trông rộng, Bác Hồ đã chỉ đạo tập hợp và tổ chức lớp học đặc biệt hơn 50 “hạt giống đỏ” của các bộ tộc Lào ở An toàn khu Việt Bắc năm 1957. Bác tin tưởng rằng, được đào tạo bài bản, lực lượng này sau 15 năm sẽ nắm chính quyền. Tiên đoán của Bác đã chứng minh hoàn toàn chính xác.

leftcenterrightdel
Tỉnh ủy Xayabury (Lào) đón ông Tăng Xuân Ngọc trong chuyến thăm tháng 7-2016. Ảnh chụp lại. 
Sau đó, ông Ngọc trở về nước làm ở Tổng đội Biên phòng, rong ruổi khu vực biên giới giáp hạ Lào rồi nhận được lệnh khẩn cấp về Mộc Châu. Một công việc hoàn toàn mới giao cho ông, đó là làm giáo viên giảng dạy văn hóa cho lớp học đặc biệt ở Việt Bắc trong thời gian một năm rưỡi. Dạy hết lớp 7, phần thì ông đã hết vốn liếng, mặt khác các học viên đã quen dần ngôn ngữ Việt nên Trung ương cử các giáo viên ở Đại học Tổng hợp Hà Nội dạy đến hết cấp 3. Lớp học sinh ấy theo thời gian đều trở thành lãnh đạo cấp cao của Đảng, Nhà nước Lào, trong đó có nguyên Tổng Bí thư Đảng, Chủ tịch nước Chum-ma-ly Xay-nha-xỏn; nguyên Chủ tịch Quốc hội Lào Xa-mản Vi-nha-kệt (vừa qua đời) và đương kim Tổng Bí thư Đảng Nhân dân cách mạng Lào, Chủ tịch nước Cộng hòa DCND Lào Bun-nhăng Vô-la-chít. Đám cưới ông với bà Trần Thị Huệ, tháng 12 năm 1958 có cả 3 người học trò này. Mấy chục năm sau họ vẫn còn nhắc mãi.

Những tháng ngày sôi động

Về công tác ở Bộ Tư lệnh Biên phòng, đôi chân ông gần như có mặt ở hầu hết các địa bàn biên giới giáp với Trung Quốc và hạ Lào. Một lần, ông nhận lệnh phải về Hà Nội gấp. Hai con ngựa chiến đồng hành cùng ông suốt chặng đường về Sa Pa, từ đó ông tiếp tục bươn bả trên chiếc xe đạp đến nhà ga Lào Cai rồi bắt tàu về Hà Nội. Khi đó ông biết rằng, Tiểu đoàn 2 đã nổi dậy chống bọn phản động cực hữu Lào và bị bọn chúng truy đuổi đến biên giới. Tại Nghệ An, ông đã đón cán bộ, chiến sĩ Tiểu đoàn về một địa điểm mới ở Việt Nam để ổn định tổ chức. Cũng trong thời điểm này, cách mạng Lào gặp muôn vàn khó khăn. Lực lượng phái hữu được sự tiếp tay của Mỹ điên cuồng chống phá cách mạng. Ngày 26-7-1959, chúng ngang nhiên bắt giam đồng chí Xu-pha-nu-vông, các nghị sĩ Quốc hội vương quốc là các nhà lãnh đạo và cán bộ của Mặt trận Neo Lào Hắc Xạt (7 nghị sĩ Quốc hội, 9 Ủy viên Trung ương Mặt trận Lào yêu nước) - đây là những lãnh tụ cực kỳ quan trọng của cách mạng Lào.

Ông được giao nhiệm vụ phối hợp với tổ công tác Quân khu 4 trong kế hoạch giải cứu. Khoảng 0h30 ngày 24-5-1960, các đồng chí cán bộ cách mạng Lào bị giam giữ đã được thoát ra ngoài. Thông qua các buổi nhắn tin vào Nam của Đài tiếng nói Việt Nam, ông lồng mật mã về các lực lượng truy đuổi để đoàn xử trí, bảo đảm đoàn đến nơi an toàn. Trong thời gian các đồng chí lãnh đạo của bạn về Hà Nội, ông tiếp tục vào Nghệ An đón gia đình các đồng chí này từ Lào về cùng hội ngộ ở Thủ đô. Một nhiệm vụ mới dành cho ông đó là vừa làm sĩ quan thông tin của Đoàn 959 vừa trực tiếp làm cầu nối liên lạc giữa các đồng chí lãnh đạo của bạn và Bộ Quốc phòng Việt Nam nhằm chỉ đạo tình hình nóng bỏng lúc bấy giờ.

Ngày 9-8-1960, Koong Le, Đại úy Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 2 nhảy dù quân đội Hoàng gia Lào tiến hành cuộc đảo chính nhằm lật đổ chính phủ Hoàng gia thân phương Tây, lập ra chính phủ trung lập. Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã cử đồng chí Chu Huy Mân, phụ trách Quân sự Ban công tác Lào Trung ương  và ông Ngọc sang Viêng Chăn theo dõi và nắm tin tức kịp thời. Theo máy bay vận tải của Liên Xô viện trợ cho chính phủ mới, đoàn đã vào thủ đô của bạn an toàn, qua mắt các lực lượng đối lập. Vài ngày sau, ông lại đón đồng chí Cay-xỏn Phôm-vi-hản sang chỉ đạo lực lượng đảo chính. Neo Lào Hắc Xạt chớp thời cơ kéo chính phủ Xuvănna Phuma về với mình, phối hợp cùng lực lượng đảo chính chống bọn phản động thân Mỹ, cùng lúc đẩy mạnh hoạt động vũ trang ở miền núi và đồng bằng. Trong những ngày này, phe đảo chính thường xuyên nhận mọi thông tin từ ông Tăng Xuân Ngọc mà không hề biết rằng có hai đồng chí lãnh đạo cao cấp là Chu Huy Mân và Cay-xỏn Phôm-vi-hản đang ở rất gần.

Một thời gian sau, tình hình đã diễn biến theo chiều hướng xấu. Trung ương lo ngại cho sự an toàn của lãnh đạo nước bạn đã chỉ thị đưa khẩn cấp về Việt Nam. Như lịch hẹn, ông đốt lửa suốt đêm làm hiệu để máy bay đỗ, tuy nhiên do thời tiết, chiếc máy bay đã gặp nạn. Để bảo vệ bí mật quân sự, hai đồng chí trong tổ lái cũng là những người bạn của ông đã hy sinh. Phương án 1 không thành được thay thế bằng phương án đánh chiếm một đồn lính của bọn phản động, nơi có sân bay, cách Viêng Chăn 80 km. Ông tiếp tục lo toan phối hợp và mọi việc diễn ra như dự định. Sau khi các đồng chí đồng chí lãnh đạo của bạn về Việt Nam, ông Ngọc tiếp tục ở lại Lào làm chuyên gia cho lực lượng đảo chính đánh lên Đường 7 và giải phóng Cánh đồng Chum.

leftcenterrightdel
Đại tá Tăng Xuân Ngọc và người bạn đời của mình. Ảnh: Hồng Vân
Năm 1962, hiệp định Giơ-ne-vơ về Lào được ký và thành lập Chính phủ liên hiệp. Theo quy định, các cố vấn, chuyên gia nước ngoài rút hầu hết về nước. Nhà vua Lào Xri Xavang Vatthana đã tặng ông huân chương Triệu Voi là huân chương cao quý nhất của Lào vì những đóng góp của ông với nước bạn. Ông cũng không ngờ mình tiếp tục được đón đoàn đại biểu Hoàng gia Lào sang thăm Việt Nam tháng 3-1963. Cũng trong năm này, một biến cố xảy ra với Lào. Bọn phản động tay sai của Mỹ đã ám sát ông Kinim Phônxêna, lôi kéo Koong Le, và làm cuộc đảo chính lật đổ chính phủ liên hiệp lần thứ 2. Bọn chúng âm mưu đánh chiếm Cánh đồng Chum, Xiêng Khoảng, làm cho địa bàn này trở thành nơi tranh chấp quyết liệt  giữa lực lượng cách mạng và phản cách mạng.

Kỷ niệm không quên với Đại tướng Võ Nguyên Giáp

Thời điểm dầu sôi lửa bỏng ấy, đang ở Phòng C thuộc Quân ủy Trung ương, ông được Đại tướng Võ Nguyên Giáp giao nhiệm vụ khẩn. Đó là bay qua Cánh đồng Chum gặp ngay đồng chí Chu Huy Mân và Hoàng Sâm, truyền đạt chủ trương và chỉ đạo xử lý của Bộ Chính trị để phối hợp với bạn giải quyết tình hình lúc bấy giờ. Đại tướng nói: “Khi cậu bay sang đến nơi, nhớ quan sát. Nếu thấy trận địa pháo không quay nòng theo máy bay thì cậu hạ xuống đường băng, còn thấy nòng pháo quay theo thì cậu bảo tổ lái bay lên hướng Bắc cách 7km thì nhảy dù xuống tìm gặp anh Mân”. Khi nhận mệnh lệnh, ông Ngọc không được ghi chép, chỉ nhớ thuộc lòng. Được Đại tướng cho đón ra sân bay tiễn chồng, bà Trần Thị Huệ, vợ ông công tác ở Học viện Nông Lâm lặng người khi nhìn thấy chồng mình trong bộ quân phục phi công ngụy. Bà không kịp nghĩ gì chỉ cảm nhận được niềm tin từ bàn tay của chồng đặt trên vai bà và nhìn theo bước chân chồng lên máy bay AN26 của Liên Xô. Bà cũng không biết chồng mình đi đâu, trong lúc đứa con trai đầu vừa tròn 1 tuổi.

Khi được hỏi về chuyến đi này, ông Ngọc nhớ lại: “Nhận điện thoại của anh Nguyễn Chính Giao (Phó ban Thường trực Ban công tác Lào Trung ương) bảo xuống ngay Bắc Bộ Phủ (nay là Nhà khách Chính phủ) làm việc, tôi mượn chiếc xe đạp công của Ban, đạp đến nơi thì lính gác chỉ lên một phòng nhỏ trên gác 2. Khi lên thì đã thấy Đại tướng và anh Giao đang ngồi chờ. Đại tướng nói: “Tình hình ở Cánh đồng Chum đang diễn biến rất xấu - Mỹ giật dây bọn phỉ đảo chính khống chế Koong Le, bắt một số chuyên gia Việt Nam, anh Chu Huy Mân và anh Hoàng Sâm bị chúng cô lập, khống chế bộ phận điện đài, thông tin bị mất liên lạc, chúng khống chế đường băng bằng trận địa pháo 37ly, tình hình rất nguy cấp”. Bằng sự khôn khéo và từng trải của người lính quân báo, chuyến công tác đã thành công như kế hoạch. Sau này đồng chí Nguyễn Chính Giao đã nói với ông: “Chuyến đi của cậu, anh Văn nói rất nguy hiểm, dự lường 2/3 cậu sẽ hy sinh”. Nhưng may mắn điều đó đã không xảy ra và ông Ngọc đã ở bên nước bạn cho đến khi kết thúc cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.

Trong căn nhà đơn sơ của Đại tá CCB Tăng Xuân Ngọc không có treo bất cứ tấm huân chương nào. Trong quá trình hoạt động cách mạng, ông chỉ biết tin mình được trao tặng tổng cộng 14 huân chương các loại qua điện đài ở quê nhà báo sang. Sau đó mấy chục năm thì Tổng cục Chính trị cho người đem huân chương đã cất giữ giùm đến giao trong đó có rất nhiều huân chương cao quý của nước Lào. Nhưng ông đều cất riêng trong góc tủ ký ức của mình. Ông nghĩ căn bản là phải sống như thế nào để khi mất đi người ta còn nhớ đến mình.

Giã từ quân ngũ và tiếp tục duyên nợ với xứ sở Triệu Voi

Do đặc điểm công việc, ông Tăng Xuân Ngọc gần như có mặt trong hầu hết các sự kiện quan trọng giữa hai nước Việt, Lào như thiết lập quan hệ ngoại giao Lào - Việt Nam (5-9-1962), ký Hiệp ước Hữu nghị và Hợp tác Lào - Việt Nam (18-7-1977)... Biền biệt với những chuyến đi, không được ở gần chăm sóc, giúp đỡ vợ con, ngay cả khi vợ đi mổ tim ở TP Hồ Chí Minh. Trước đó là những lần vợ sinh nở, ông chưa lần nào đỡ đần một tay giúp vợ. Ông biết gia đình đã ủng hộ công việc của ông rất nhiều. Điều đó làm ông vừa tự hào vừa thấy có lỗi nhiều với tổ ấm của mình. Năm 1985, ông nói với đồng chí Chu Huy Mân cho ông về lại công tác ở tỉnh Nghĩa Bình (cũ) sau hơn 30 năm rời quê. Ông biết nếu ở Trung ương, với cống hiến của mình, con đường binh nghiệp của ông sẽ thênh thang hơn. Tuy nhiên là một người không màng danh vọng, ông chỉ xin về Bộ CHQS tỉnh và làm chức gì cũng được. Đồng chí Bí thư Tỉnh ủy sau khi biết chuyện, đã mời ông giúp tỉnh mảng kinh tế đối ngoại. Vậy là ông gác lại nhiệm vụ của một người lính và nhận chức Phó Ban hợp tác kinh tế văn hóa với Lào và Cam-pu-chia của tỉnh Nghĩa Bình (là tên một tỉnh cũ thuộc ven biển Trung Trung Bộ của Việt Nam. Tỉnh này được thành lập tháng 2 năm 1976 trên cơ sở hợp nhất hai tỉnh Quảng Ngãi và Bình Định. Đến tháng 6 năm 1989, tỉnh lại được tách ra thành hai tỉnh như cũ), sau đó là Phó giám đốc Sở Thương mại và Du lịch.

Với cương vị này, hầu như năm nào ông cũng đi Lào giữ vai trò cố vấn cho lãnh đạo tỉnh và là khách mời của cả hai bên. Riêng với hai tỉnh Át-ta-pư và Chăm-pa-sắc, hai tỉnh quan hệ toàn diện với Nghĩa Bình, ông luôn có mặt ở những sự kiện lớn. Thú vị nhất là có lần tại Đại hội Đảng bộ tỉnh Chăm-pa-sắc, ông là khách mời của tỉnh Bình Định đến dự. Lúc này đồng chí Khămtày Xiphănđon là Thường trực Ban Bí thư cũng dự Đại hội. Thấy ông Ngọc, đồng chí rất mừng. Ghé tai ông, đồng chí hỏi nhỏ: “Cậu đã có bản báo cáo của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh chưa”. Khi nghe ông trả lời là đã có, đồng chí Khămtày nói: “Anh chàng Bí thư đọc cũng phải mất 3 tiếng. Tranh thủ cậu về nhà khách với tôi đi, mình bàn mấy chuyện”. Lại nhớ có lần vào năm 2010, qua chơi nhà nguyên Tổng Bí thư Khămtày Xiphănđon, khi cậu con trai thứ hai lúc đó đã là Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư, Tỉnh trưởng Chăm-pa-sắc ngồi uống rượu cùng, người cha cười: “Con đứng dậy rót rượu mời chú Ngọc chứ, sao lại ngồi đây?”. Mối thâm tình ấy còn kể đến với người bạn đã qua đời, nguyên Chủ tịch Quốc hội Xa-mản Vi-nha-kệt. Những năm ông về Nghĩa Bình, đồng chí Xa-mản Vi-nha-kệt trong chuyến công tác đã bí mật đến thăm ông, không hề có trống giong cờ mở. Nhà lúc đó chỉ là gian nhà cấp 4 chưa sửa sang, nhưng cả hai đã có những phút giây hàn huyên cảm động. Họ nhắc đến một thời gian khó và hiểm nguy; ngày mà ông Ngọc đón vợ đồng chí Xa-mản lúc này đang mang thai vượt rừng núi qua Việt Nam. Nhớ lại những kỷ niệm đó, Đại tá Tăng Xuân Ngọc bồi hồi: “Từ cậu học trò nghèo của huyện miền núi, được cách mạng phân công nên tôi có duyên nợ với đất nước Lào. Niềm hạnh phúc lớn nhất của tôi là với bề dày 60 năm gắn bó với nước Lào nên đến nay, dù đã ngoài 85 tuổi, những người lãnh đạo Đảng, Nhà nước và quân đội Lào vẫn rất yêu quý, tin cậy”.

Các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước ta đều không quên những cống hiến to lớn của ông với nước bạn. Những vấn đề chính trị trong đối ngoại, đặc biệt với Lào, một số đồng chí ở Trung ương luôn nhờ ông cố vấn, tham mưu. Vì thế mà ông liên tục có những chuyến đi dù tuổi ngày càng cao và sức khỏe không còn như trước. Ông cho chúng tôi xem hồi ký của ông chép một mặt trên những tờ lịch to bản. Thật không thể tin được, một người được bạn Lào tôn vinh mà giản dị đến như thế. Hỏi sao ông không nhờ đánh máy và in ấn thành tập để lưu niệm. Ông nói: “Để làm gì hả cháu?. Bác chỉ muốn ghi lại để khỏi quên và những đứa con, cháu của bác đọc để biết cha ông nó đã sống một thời cách mạng như thế nào. Thế thôi”.

Gác lại một thời thanh xuân ý nghĩa, hàng ngày ông dành thời gian đọc báo, nghe đài, nắm tin tức, viết lách, nói chuyện với người vợ tri kỷ, tri âm. Tuân thủ nghiêm ngặt thời gian biểu và đồng hồ sinh học, giữ trí tuệ minh mẫn và sức khỏe dẻo dai để có thể sẵn sàng cơ động bất cứ lúc nào khi đất nước cần.

HỒNG VÂN