Xác định đúng điểm nghẽn

KTTN ngày càng đóng góp to lớn hơn trong cơ cấu lại nền kinh tế, tăng thu ngân sách Nhà nước. Hội nghị lần thứ 5, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX đã ban hành Nghị quyết số 14-NQ/TW về tiếp tục đổi mới cơ chế, chính sách, khuyến khích và tạo điều kiện phát triển KTTN. Hội nghị lần thứ 5, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII tiếp tục ban hành các nghị quyết quan trọng về kinh tế, trong đó có Nghị quyết số 10-NQ/TW về phát triển KTTN trở thành một động lực quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

Mấy thập kỷ qua, doanh nghiệp (DN) tư nhân tăng nhanh về số lượng và từng bước nâng cao chất lượng, góp phần quan trọng vào phát triển kinh tế, giữ vững ổn định chính trị, xã hội của đất nước. Đến nay, nước ta có khoảng 600.000 DN tư nhân và hơn 5 triệu hộ kinh doanh cá thể phi nông nghiệp, đóng góp quan trọng vào công cuộc phát triển kinh tế. Giai đoạn 2006-2015, KTTN đóng góp hơn 40% GDP; 30% tổng giá trị công nghiệp; 80% tổng mức lưu chuyển hàng hóa bán lẻ và dịch vụ; 35% tổng vốn đầu tư phát triển; thu hút 51% lực lượng lao động của cả nước và tạo ra khoảng 1,2 triệu việc làm cho người lao động mỗi năm. Năm 2016, hơn 110.000 DN thành lập, tăng 16% so với năm 2015, đạt mức kỷ lục từ trước đến nay. Điểm nổi trội của DN tư nhân trong thời gian khá dài là giải quyết việc làm.

Mặc dù có nhiều đóng góp cho phát triển kinh tế đất nước, tuy nhiên, về mặt hiệu quả sản xuất, kinh doanh của khu vực KTTN vẫn còn nhiều hạn chế. Theo ông Hồ Sỹ Hùng, Cục trưởng Cục Phát triển DN, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, các DN tư nhân chủ yếu ở quy mô nhỏ và vừa, đầu tư vào công nghệ, kỹ thuật thấp. DN thiếu vốn để đầu tư máy móc, công nghệ. Tài sản cố định bình quân duy trì ở mức 7-8 tỷ đồng/DN và không có cải thiện đáng kể trong suốt giai đoạn 2011-2015. Mặt khác, DN tư nhân không đủ năng lực tài chính để đầu tư vào tài sản cố định, máy móc công nghệ để giảm chi phí, nâng cao hiệu quả hoạt động, làm giảm khả năng cạnh tranh. Đây là vấn đề rất đáng suy ngẫm đối với các cơ quan hoạch định chính sách để có thể đưa ra chính sách phù hợp với khu vực này.

TS Trần Thị Hồng Minh, Cục trưởng Cục Quản lý đăng ký kinh doanh (Bộ Kế hoạch và Đầu tư) đánh giá, bên cạnh những điểm sáng, trong bức tranh DN năm 2016 cũng nhận thấy một số bất cập; đó là số lượng DN giải thể, ngừng kinh doanh có thời hạn trong năm 2016 tăng so với cùng kỳ năm 2015 (12.373 DN giải thể, tăng 30,7%; 19.995 DN đăng ký tạm ngừng kinh doanh có thời hạn, tăng 27,8%). Điều này cho thấy, bên cạnh các điều kiện thuận lợi của khung khổ chính sách mới và những cơ hội mở ra trong thời kỳ hội nhập, vấn đề tiếp cận tín dụng, nhân lực, chi phí không chính thức, môi trường đầu tư kinh doanh... vẫn là rào cản gây khó khăn cho hoạt động sản xuất, kinh doanh của DN tư nhân.

leftcenterrightdel

Cán bộ nông nghiệp huyện Ea H'leo, tỉnh Đắc Lắc hướng dẫn người dân cách trồng, chăm sóc cây cà phê cho năng suất cao. Ảnh: Tuấn Anh 

Tạo thêm nhiều không gian mới

PGS, TS Trần Đình Thiên, Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam khẳng định, sắp xếp đổi mới kinh tế Nhà nước, nhất là DN Nhà nước và phát triển KTTN là nhiệm vụ then chốt của nước ta trong những năm tới. Việc phát triển KTTN không chỉ chú trọng đến phát triển DN tư nhân mà còn cả kinh tế tập thể và hộ kinh doanh cá thể.

Nhìn lại cộng đồng DN Việt Nam có thể thấy, nước ta có rất nhiều DN nhưng lại chưa phải là lực lượng mạnh, bởi thiếu sự liên kết giữa DN Nhà nước và DN tư nhân. Các DN Nhà nước vẫn được hưởng nhiều ưu ái từ Nhà nước cùng ưu thế được cấp vốn từ ngân sách, được tạo điều kiện thuận lợi hơn trong việc tiếp nhận các nguồn vay của các tổ chức tín dụng, ngân hàng so với DN tư nhân. Khu vực KTTN thường chịu áp lực cạnh tranh gay gắt hơn từ phía các DN nước ngoài trong bối cảnh hội nhập và phần lớn vẫn hoạt động ở thị trường nội địa; trong khi năng lực cạnh tranh yếu, chưa tham gia được vào chuỗi giá trị toàn cầu. Năm 2015, chỉ có 3% DN siêu nhỏ, 4% DN nhỏ và gần 9% DN quy mô vừa có khách hàng nước ngoài. Các chuyên gia cũng nhận định, áp lực cạnh tranh với hàng nhập khẩu từ Trung Quốc đã làm phá sản hoặc buộc các DN nhỏ và vừa của Việt Nam phải “lui” về các ngành thâm dụng lao động với năng suất thấp.

PGS, TS Nguyễn Hồng Sơn, Phó giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội cho rằng, để tạo không gian cho khu vực KTTN, cần giúp khu vực này tham gia ngày càng sâu rộng hơn vào quá trình cơ cấu lại nền kinh tế, vào quá trình cổ phần hóa các DN Nhà nước, được hưởng các ưu đãi về lãi suất, vay vốn, đào tạo, thuế, thuê mặt bằng, thủ tục hành chính…; nhất là khi tham gia vào những lĩnh vực sản xuất, kinh doanh mới. Cần có những giải pháp đột phá để chấm dứt cơ chế xin-cho trong phân bổ nguồn lực Nhà nước. Quản lý ngân sách Nhà nước phải chặt chẽ, minh bạch hơn từ Trung ương tới địa phương, tạo lập môi trường thực sự bình đẳng và dỡ bỏ các rào cản cho khu vực KTTN phát triển.

Các chuyên gia cũng cho rằng, việc đoạn tuyệt hoàn toàn những phân biệt đối xử đối với khu vực KTTN và dành những ưu đãi về chính sách cho DN Nhà nước do bộ, ngành mình quản lý cần sớm được loại bỏ. Việc Nhà nước tạo ra bầu không khí hợp tác hơn nữa đối với khu vực này chứ không chỉ đơn thuần cung cấp các ưu đãi tài chính... cũng sẽ giúp khu vực KTTN ngày càng phát triển mạnh mẽ hơn.

MINH MẠNH