Chi phí logistics còn quá cao

Theo số liệu thống kê của Hiệp hội Doanh nghiệp dịch vụ logistics Việt Nam (VLA), số lượng doanh nghiệp (DN) logistics trong nước tăng mạnh, từ 700 DN năm 2005 lên khoảng 3.000 DN vào thời điểm này, trong đó có khoảng 30 DN cung cấp dịch vụ logistics xuyên quốc gia đang hoạt động tại Việt Nam. Các DN cung cấp dịch vụ logistics có vốn đầu tư nước ngoài và các DN cung cấp dịch vụ xuyên quốc gia đang là một bộ phận quan trọng trong phát triển thị trường logistics Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế thế giới ngày càng sâu rộng.

Ngân hàng Thế giới (WB) đánh giá, năm 2016 ngành dịch vụ logistics của Việt Nam xếp hạng thứ 64/160 quốc gia, đứng thứ tư trong khu vực ASEAN (sau Singapore, Thái Lan và Malaysia). Mặc dù vậy, chi phí logistics ở nước ta còn ở mức cao, trong đó tổng chi phí logistics của Việt Nam năm 2016 là 41,26 tỷ USD, tương đương 20,8% GDP (trong khi các nước phát triển chỉ từ 9 đến 14%), nhưng đóng góp từ ngành dịch vụ logistics vào GDP chỉ khoảng 2-3%. Theo tính toán, mức chi phí logistics ở Việt Nam cao hơn Thái Lan 6%, hơn Malaysia 12% và so với Singapore thì cao hơn tới 3 lần. Chi phí logistics quá cao đã gián tiếp làm giảm sức cạnh tranh của nền kinh tế nói chung và hàng hóa Việt Nam nói riêng trên thị trường quốc tế. Theo phản ánh của các DN, chi phí như vận chuyển, dịch vụ logistics cho một container hàng linh kiện điện tử bằng đường biển từ Singapore và Hồng Kông (Trung Quốc) tới Việt Nam là khoảng 160USD, nhưng vận chuyển đường bộ từ Hải Phòng về Hà Nội, chi phí tới hơn 220USD/container cho quãng đường 100km.

Mặc dù có nhiều lợi thế phát triển nhưng đến nay, ngành logistics Việt Nam vẫn yếu thế so với các nước trong khu vực. Doanh nghiệp Việt Nam cung cấp chủ yếu các dịch vụ logistics nội địa như: Dịch vụ vận tải nội địa, dịch vụ cảng biển, cảng hàng không, dịch vụ kho bãi, bốc dỡ hàng hóa… và đảm nhận một phần dịch vụ logistics quốc tế thông qua làm đại lý cho các DN nước ngoài là các chủ hàng, chủ tàu, các nhà cung cấp dịch vụ logistics quốc tế thuê lại. Số liệu thống kê của VLA cũng cho thấy, phần lớn DN logistics của Việt Nam là DN nhỏ và vừa; việc đầu tư phương tiện vận tải chỉ khoảng 16% và 4% về kho bãi, còn lại phải đi thuê ngoài. Chính vì thế, DN logistics trong nước chỉ nắm giữ 25% thị phần, số còn lại nằm trong tay các DN nước ngoài.

Ông Lê Duy Hiệp, Chủ tịch VLA đánh giá, điểm yếu của các DN Việt Nam là chi phí dịch vụ chưa cạnh tranh tốt, chất lượng cung cấp một số dịch vụ chưa cao; hạn chế về quy mô và vốn, về kinh nghiệm và trình độ quản lý cũng như trình độ nguồn nhân lực chưa đáp ứng yêu cầu hoạt động quốc tế. Vì vậy, các DN logistics trong nước không có đầu mối nguồn hàng do chưa tìm được tiếng nói chung với các DN xuất nhập khẩu, khiến cho các DN xuất nhập khẩu thiếu tin tưởng để lựa chọn DN logistics trong nước làm đối tác. Một nguyên nhân quan trọng nữa là hạn chế về kết cấu hạ tầng logistics và chi phí vận tải trên đường bộ, phụ phí cảng biển do các chủ tàu nước ngoài áp đặt. Việc nâng cao năng lực cạnh tranh ngành dịch vụ logistics của Việt Nam hiện nay là một yêu cầu cấp bách.

Logistics phải là ngành “dịch vụ cơ sở hạ tầng”

Theo Quyết định số 200/QĐ-TTg ngày 14-2-2017 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt kế hoạch hành động nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển dịch vụ logistics, đến năm 2025, Việt Nam đặt quyết tâm trở thành một đầu mối logistics quan trọng trong khu vực. Chính phủ hướng đến việc tăng trưởng của các ngành dịch vụ logistics đạt 15-20%/năm, đóng góp vào GDP 8-10%; chi phí logistics giảm xuống tương đương 16-20% GDP, xếp hạng theo chỉ số năng lực quốc gia về logistics (LPI) trên thế giới đạt thứ 50 trở lên.

Bộ trưởng Bộ Công Thương Trần Tuấn Anh cho rằng, để nền kinh tế phát triển bền vững, ngành logistics của Việt Nam phải được coi là một ngành “dịch vụ cơ sở hạ tầng” đóng vai trò quan trọng trong đổi mới mô hình tăng trưởng và cơ cấu lại nền kinh tế. Cùng với đó, cần tháo gỡ vướng mắc về cơ chế, chính sách, thủ tục hành chính trong hoạt động xuất, nhập khẩu hàng hóa giữa Việt Nam với các nước nói chung và lưu thông hàng hóa trong nước nói riêng. Tăng cường hoàn thiện cơ sở hạ tầng giao thông, xây dựng các trung tâm logistics và hạ tầng công nghệ thông tin theo hướng bền vững trong mối liên kết các vùng kinh tế trọng điểm và các hành lang kinh tế. Đặc biệt, cần có các giải pháp nhằm đào tạo phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao và phong cách làm việc chuyên nghiệp trong hoạt động logistics.

Ông Ousmane Dione, Giám đốc quốc gia WB tại Việt Nam cho rằng, Chính phủ cần có lộ trình rõ ràng về cải cách nếu muốn nâng cao chất lượng dịch vụ logistics. Cần tăng cường kết nối vì khi khả năng kết nối hiệu quả thì sẽ tăng cường được mối liên kết giữa sản xuất trong nước và thị trường thế giới, từ đó sẽ giảm được chi phí thương mại cho các DN trong nước. Tiềm năng tăng trưởng của Việt Nam đang bị hạn chế nghiêm trọng do sự yếu kém của hành lang kết nối giữa những vùng kinh tế trọng điểm với các cửa ngõ quốc tế lớn do chi phí vận tải cao và chất lượng vận tải, dịch vụ logistics kém. Giám đốc quốc gia WB tại Việt Nam nhận định, Chính phủ, các bộ, ngành cần tăng cường tạo thuận lợi thương mại cho các DN nhiều hơn, thay vì cắt giảm thuế quan, bởi mức thuế hiện đã khá thấp ở phần lớn các lĩnh vực. Cần tăng cường tạo thuận lợi thương mại thông qua đơn giản hóa thủ tục hải quan và các quy định kiểm tra chuyên ngành nhằm giảm các chi phí, gánh nặng thủ tục, các điểm tắc nghẽn đối với DN.

Các chuyên gia kinh tế nhận định, điều cần nhất với ngành dịch vụ logistics là phải giảm được chi phí liên quan đến tất cả các phân ngành, chi phí vận tải trong nước, quốc tế; chi phí thuê kho bãi... Đi cùng với đó là việc tăng cường phát triển hạ tầng logistics, xây dựng các trung tâm logistics và các DN dịch vụ logistics đầu tàu, hiện đại và chuyên nghiệp, có đủ sức cạnh tranh cũng như phát huy tối đa lợi thế vị trí địa lý chiến lược.

ĐÔNG HẢI