Điểm sáng từ công nghiệp chế biến, chế tạo và niềm tin tiêu dùng

Theo Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư (KH&ĐT) Nguyễn Chí Dũng: Hiện nay sức chống chịu của nền kinh tế Việt Nam được nâng lên rất nhiều. Là nền kinh tế có độ mở lớn, Việt Nam phụ thuộc nhiều vào yếu tố bên ngoài. Thế nhưng thời gian qua, với những biến động thế giới phức tạp, kinh tế Việt Nam vẫn bảo đảm tăng trưởng và ổn định; tính tự chủ của nền kinh tế cũng được nâng lên rõ rệt... Đó chính là những cơ sở để nền kinh tế Việt Nam tự tin tăng tốc trong năm 2019.

Trên cơ sở đánh giá tình hình kinh tế năm 2018 cũng như xem xét triển vọng phát triển của các ngành, lĩnh vực, các nhân tố có thể tác động đến tăng trưởng kinh tế Việt Nam trong năm 2019, Trung tâm Thông tin và Dự báo kinh tế xã hội quốc gia (Bộ KH&ĐT) đưa hai kịch bản dự báo được xây dựng dựa trên các giả định về sự thay đổi của các biến số, bao gồm: Tăng trưởng kinh tế thế giới; chỉ số giá tiêu dùng thế giới; giá dầu thế giới; một số đánh giá tác động của chiến tranh thương mại Mỹ-Trung; tỷ lệ đầu tư/GDP; tốc độ tăng lực lượng lao động và biến động tỷ giá, biến động lãi suất; tăng trưởng tín dụng; nợ công. Theo đó, dự báo tăng trưởng GDP của Việt Nam năm 2019 sẽ dao động trong khoảng 6,84%-7,02%.

leftcenterrightdel
Công nghiệp chế biến, chế tạo được dự báo là động lực tăng trưởng mạnh cho kinh tế Việt Nam năm 2019. Trong ảnh: Sản xuất ô tô tại Nhà máy ô tô Thaco-Mazda. 

Tổ tư vấn Kinh tế của Thủ tướng Chính phủ cũng đưa ra mức dự báo tăng trưởng kinh tế năm 2019 khá tương đồng là từ 6,9% đến 7% và lạm phát dưới 4%. Nhìn dài hạn hơn, tổ tư vấn đưa ra 3 kịch bản tăng trưởng từ nay tới năm 2020. Cụ thể, kịch bản 1 dựa trên giả thuyết điều kiện bình thường của nền kinh tế, GDP tăng trưởng trung bình 6,86%/năm cho giai đoạn 2018-2020. Kịch bản 2, mức tăng trưởng là 6,91%. Kịch bản 3, mức tăng trưởng là 7,06%.

Một số tổ chức quốc tế dự báo tăng trưởng của Việt Nam năm 2019 ở mức cao, ví dụ: Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) dự báo kinh tế Việt Nam tăng trưởng 6,8%; Ngân hàng ANZ dự báo mức 7%...

Tuy vậy, Nghị quyết số 01/NQ-CP về nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội và dự toán ngân sách Nhà nước năm 2019 (Nghị quyết 01), Chính phủ đã hết sức thận trọng khi đặt mục tiêu tăng trưởng kinh tế cả năm 2019 là 6,8% (mức cao nhất theo nghị quyết của Quốc hội giao là tăng trưởng từ 6,6% đến 6,8%). Cụ thể, tăng trưởng quý I ở mức 6,93%; quý II tăng 6,7%; quý III tăng 7,03%; quý IV tăng 6,63%. Chính phủ đã xác định rõ mục tiêu tăng trưởng của từng ngành, từng lĩnh vực. Theo đó, ngành nông, lâm nghiệp và thủy sản cần tăng trưởng 3%; ngành công nghiệp và xây dựng tăng trưởng 8,57%; trong đó ngành chế biến, chế tạo được yêu cầu tăng mạnh nhất với 12,09%; trong khi đó ngành khai khoáng lại được dự báo tăng trưởng âm (giảm 4,4%).

Nhìn vào các chỉ số trên cho thấy, so với năm 2018, Chính phủ xây dựng mức tăng trưởng các ngành, lĩnh vực đều thấp hơn từ 0,76% đến hơn 1%; riêng lĩnh vực công nghiệp khai khoáng giảm mạnh nhất với 1,29%. Điều này cho thấy, mặc dù kết quả phát triển kinh tế của năm 2018 rất tốt, các đánh giá của quốc tế về Việt Nam là lạc quan, tuy nhiên Chính phủ có sự thận trọng trước những thách thức từ tác động của tình hình thế giới, trong nước và tiếp tục đi theo hướng giảm dần sự phụ thuộc vào khai thác tài nguyên thiên nhiên, khoáng sản.

Theo TS Đặng Đức Anh, Trưởng ban Phân tích và Dự báo, Trung tâm Thông tin và Dự báo Kinh tế xã hội Quốc gia (NCIF), năm 2019, nền kinh tế Việt Nam có những yếu tố thuận lợi để bứt phá: Thứ nhất, tăng trưởng kinh tế thế giới mặc dù được dự báo suy giảm nhưng vẫn ở mức tăng khá cao so với giai đoạn trước. Thứ hai, tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế được đẩy nhanh tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển quan hệ kinh tế-thương mại giữa Việt Nam và các đối tác. Việc tham gia vào các Hiệp định CPTPP và EVFTA sẽ mang lại tác động tích cực tới kinh tế Việt Nam trong năm 2019. Theo đánh giá của trung tâm, CPTPP sẽ giúp GDP của Việt Nam tăng thêm 1,32%, tương đương với 1,7 tỷ USD. Tác động này có thể sẽ lớn hơn nếu Việt Nam thực hiện đồng thời cắt giảm thuế quan và tự do hóa dịch vụ theo kịch bản mở cửa dịch vụ (2,01%). Thứ ba, kết quả tăng trưởng khả quan trong năm 2018 là điều kiện thuận lợi, tạo đà cho tăng trưởng năm 2019. Thứ tư, kinh tế vĩ mô về cơ bản vẫn được bảo đảm, lạm phát được dự báo trong tầm kiểm soát, thanh khoản hệ thống ngân hàng được duy trì tốt, dự trữ ngoại hối được duy trì ở mức cao là căn cứ để bảo đảm tỷ giá và lãi suất không có biến động quá lớn là điều kiện thuận lợi ổn định kinh tế vĩ mô giúp cho tăng trưởng kinh tế. Thứ năm, môi trường kinh doanh được cải thiện mạnh mẽ hơn khi Chính phủ đang nỗ lực tạo môi trường kinh doanh thuận lợi hơn cho các doanh nghiệp phát triển, đồng thời, Việt Nam buộc phải thực hiện các cam kết trong Hiệp định CPTPP về cải thiện môi trường kinh doanh. Thứ sáu, dòng vốn đầu tư quốc tế đang có sự dịch chuyển mạnh về Việt Nam.

Nhìn chung, các chuyên gia kinh tế trong nước và quốc tế đều cho rằng, động lực tăng trưởng năm 2019 của Việt Nam tiếp tục được duy trì bởi khu vực FDI (thông qua đóng góp trong xuất khẩu và công nghiệp chế biến, chế tạo) và khu vực tư nhân. Tăng trưởng cũng sẽ được thúc đẩy từ mức tăng mạnh của cầu tiêu dùng với niềm tin tiêu dùng được cải thiện do thu nhập của người dân tăng và lạm phát được duy trì ở mức thấp; tăng trưởng xuất khẩu được hỗ trợ với việc thực hiện các hiệp định thương mại; tổng đầu tư toàn xã hội có thể được duy trì như những năm vừa qua với sự đóng góp nhiều hơn từ khu vực FDI và khu vực tư nhân.

Cần tập trung quan tâm doanh nghiệp tư nhân, khoa học-công nghệ

Mặc dù có nhiều yếu tố tích cực hỗ trợ cho tăng trưởng kinh tế năm 2019, nhưng nền kinh tế Việt Nam cũng đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức như: Thứ nhất, kinh tế có thể bị tác động tiêu cực từ các biến động của kinh tế thế giới, trong đó nổi bật là cuộc chiến thương mại Mỹ-Trung. Thứ hai, mô hình tăng trưởng mặc dù có sự cải thiện song chưa rõ rệt, tăng trưởng vẫn chủ yếu dựa vào các nguồn lực như vốn đầu tư và tín dụng, trong khi chất lượng, hiệu quả sử dụng các nguồn lực này chưa cao. Thứ ba, chất lượng lao động chưa được cải thiện cùng năng lực khoa học-công nghệ ở mức thấp có thể ảnh hưởng tới lợi thế cạnh tranh của Việt Nam trên thị trường quốc tế và khả năng thu hút các dòng vốn tới Việt Nam. Thứ tư, công nghiệp chế biến, chế tạo tăng trưởng ấn tượng trong thời gian qua nhưng đang có xu hướng tăng chậm lại. Thứ năm, xuất khẩu đối mặt với nhiều khó khăn khi mà các chính sách bảo hộ thương mại của nhiều đối tác lớn chính thức áp dụng với nhiều hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam. Thứ sáu, giá của các nhóm hàng y tế, giáo dục, điện, nước có thể tiếp tục được điều chỉnh tăng làm tăng chi phí sản xuất và tiêu dùng, từ đó làm giảm sức mua trong nước, đồng thời gây áp lực gia tăng lạm phát.

Ông Phạm Hồng Hải, Tổng giám đốc Ngân hàng HSBC Việt Nam lo ngại rằng, trong trường hợp căng thẳng thương mại Mỹ-Trung tiếp tục leo thang làm ảnh hưởng đến niềm tin của nhà đầu tư và giảm tốc độ tăng trưởng thương mại toàn cầu, Việt Nam sẽ chịu tác động lớn do độ mở của nền kinh tế rất lớn với thế giới. Ngoài ra, nếu kinh tế Trung Quốc giảm tốc đột ngột cũng tác động lớn đến kinh tế Việt Nam và khu vực. 

Tuy nhiên, Bộ trưởng Bộ KH&ĐT Nguyễn Chí Dũng lạc quan cho rằng, với mức tăng trưởng 7,08% năm 2018, gần như chắc chắn Việt Nam sẽ đạt mục tiêu tăng trưởng bình quân 6,5% của cả giai đoạn 5 năm. So với quốc tế và khu vực, đây là mức tăng rất tích cực. Trước những thách thức của tình hình thế giới cùng những tồn tại của nền kinh tế trong nước, để đạt mục tiêu tăng trưởng, theo Bộ trưởng Nguyễn Chí Dũng, giải pháp điều hành đã có trong Nghị quyết 01 của Chính phủ, như: Tiếp tục cải thiện môi trường kinh doanh một cách thực chất, hiệu quả hơn nữa; tập trung phát triển khu vực kinh tế tư nhân thành động lực phát triển giai đoạn tới, tiếp tục tháo gỡ khó khăn, rào cản, tạo bình đẳng cho doanh nghiệp trong tiếp cận nguồn lực để có cuộc chơi minh bạch, công bằng; có chính sách hiệu quả để thúc đẩy đổi mới khoa học-công nghệ, bởi đây là nhu cầu bức thiết của nền kinh tế, có như vậy mới giúp doanh nghiệp lớn mạnh hơn nữa; chuẩn bị tốt cho hội nhập sâu rộng, tận dụng ngay các cơ hội từ Hiệp định CPTPP từ năm 2019 để mở rộng và phát triển thị trường... Đồng thời, dòng vốn đầu tư toàn cầu dự kiến tiếp tục có nhiều thay đổi, trong đó khu vực ASEAN và Việt Nam là những điểm đến hấp dẫn. Việt Nam cần chuẩn bị tốt các điều kiện để tận dụng cơ hội, đón nhận hiệu quả các dòng vốn đầu tư quốc tế.

Bài và ảnh: HỒ QUANG PHƯƠNG