Việt Nam trước sức ép nhập khẩu năng lượng

Phát biểu đề dẫn hội thảo, Thứ trưởng Bộ Công Thương Hoàng Quốc Vượng nêu ra con số tiềm năng thủy điện khá lớn ở nước ta với điện lượng khoảng 300 tỷ kWh/năm cùng với nhiều loại năng lượng tái tạo (NLTT) khác như gió, mặt trời, sinh khối. Bộ Công Thương đã nghiên cứu trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược phát triển NLTT của Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050, khẳng định ưu tiên phát triển nguồn điện sử dụng NLTT; từng bước nâng cao tỷ trọng nguồn điện sản xuất từ nguồn NLTT nhằm góp phần bảo đảm an ninh năng lượng, giảm nhẹ biến đổi khí hậu, bảo vệ môi trường và phát triển bền vững. Mục tiêu đạt tỷ lệ điện năng sản xuất từ các nguồn NLTT (không bao gồm nguồn thủy điện lớn, vừa và thủy điện tích năng) khoảng 7% vào năm 2020 và hơn 10% vào năm 2030.

leftcenterrightdel
Thủy điện Bảo Lâm 1 tại xã Lý Bôn, Bảo Lâm, Cao Bằng. 

Việt Nam đang đứng trước áp lực trở thành nước nhập khẩu năng lượng, đó là thông điệp được Thứ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ Trần Văn Tùng nhận định tại hội thảo. Nhu cầu năng lượng của Việt Nam đã tăng rất nhanh trong 15 năm qua với mức tăng trưởng năng lượng thương mại khoảng 9,5%/năm, trong khi nhu cầu tiêu thụ điện năng cũng tăng trung bình 13%/năm trong giai đoạn 2006-2010 và khoảng 11%/năm trong giai đoạn từ 2011-2016. Việt Nam hiện đang chuyển đổi từ một nước xuất khẩu năng lượng thành nước nhập khẩu năng lượng.

Siết chặt quản lý đi đôi với tìm cách làm mới cho thủy điện

Nhiều ý kiến tại hội thảo đã đánh giá cao vai trò của thủy điện thời gian qua đối với nền kinh tế đất nước. Phân tích bức tranh toàn cảnh thủy điện, ông Đỗ Đức Quân, Phó cục trưởng Cục Điện lực và Năng lượng tái tạo (Bộ Công Thương) cho rằng, việc Bộ Công Thương ban hành Thông tư số 43/2012/TT-BCT cơ bản giải quyết một số vướng mắc trong công tác lập, phê duyệt quy hoạch và hướng dẫn đầu tư xây dựng, vận hành khai thác các dự án công trình thủy điện. Đặc biệt, thực hiện Nghị quyết số 62/2013/NQ-QH13 của Quốc hội khóa XIII và Nghị quyết số 11/NQ-CP của Chính phủ, Bộ Công Thương đã phối hợp với UBND các tỉnh rà soát, loại bỏ 468 dự án do không bảo đảm hiệu quả đầu tư, tác động tiêu cực lớn đối với môi trường.

Đánh giá rất cao việc Bộ Công Thương cùng các ngành, địa phương đã rà soát cắt giảm tới gần 500 dự án thủy điện, song PGS, TS Trần Đình Thiên, Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam, thành viên Tổ tư vấn kinh tế của Thủ tướng Chính phủ vẫn cho rằng, tiềm năng thủy điện của Việt Nam vẫn còn, chúng ta có những lợi thế thì cần nên khai thác, phát triển. Việc Quốc hội đã quyết định xóa bỏ hàng trăm dự án thủy điện không phải là lỗi của bản thân các dự án thủy điện mà do cách làm, do cơ chế, chính sách. Một thời, chúng ta cho phát triển ồ ạt các dự án thủy điện, không có quy hoạch nên tác động lớn đến môi trường sinh thái và hiệu quả. Cho nên cần phải có cách làm, có mô hình mới, bền vững hơn, an toàn hơn.

Bày tỏ sự lo ngại ô nhiễm từ các dự án điện than “có thể dẫn đến thảm họa”, PGS, TS Trần Đình Thiên khuyến nghị, Bộ Công Thương cần khơi dậy các dự án thủy điện nhỏ và vừa, cần làm cụ thể, sàng lọc một cách khoa học.

Phát triển NLTT - cần thêm nhiều “cú hích”

Báo cáo của Bộ Công Thương cho thấy, ngoài thủy điện thì đối với phát triển điện gió, mục tiêu đến năm 2020 đạt tổng công suất lắp đặt là 800MW (hiện tại mới là 180MW); đến năm 2025 là 2.000MW và đến năm 2030 là 6.000MW. Trong khi đó, đến năm 2020, năng lượng mặt trời sẽ nâng công suất lắp đặt lên khoảng 850 MW, đến năm 2025 là 4.000MW và đến năm 2030 là 12.000MW.

Ông Nguyễn Viết Hùng, Phó trưởng Ban Đầu tư, Tập đoàn Điện lực Việt Nam, cho biết: Hiện, Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) và các đơn vị thành viên của EVN đang triển khai các bước quy hoạch và chuẩn bị đầu tư 23 dự án điện mặt trời, tổng công suất khoảng 3.100MW. Tập đoàn đã xác định địa điểm và lập quy hoạch: 4 dự án điện mặt trời, tổng công suất khoảng 575MW.

Tuy nhiên, trong thời gian vừa qua đã có nhiều thay đổi về những quy định trong đầu tư xây dựng, dẫn đến những khó khăn vướng mắc khi triển khai các thủ tục xây dựng. Công tác chuẩn bị đầu tư bị chi phối bởi nhiều luật và nhiều nghị định, thông tư. Trong quá trình thực hiện đã xuất hiện trường hợp khác nhau về trình tự, thủ tục đầu tư cho một dự án điện khi áp dụng các luật khác nhau... Việc bố trí quỹ đất và công tác bồi thường giải phóng mặt bằng ngày càng khó khăn, phức tạp... Các quy hoạch NLTT mới quy hoạch về quy mô công suất theo vùng, khu vực, chưa xác định địa điểm dự án, nên khó khăn trong việc quy hoạch và phát triển đồng bộ lưới điện. Công suất phát của NLTT không ổn định, thay đổi theo cường độ gió, bức xạ mặt trời...

Để khắc phục, nhiều ý kiến cho rằng phải tiếp tục hoàn thiện, tạo lập các cơ chế, chính sách để thu hút những nguồn lực đầu tư phát triển các nguồn điện và lưới điện. Các địa phương cân đối, bố trí quỹ đất cho các dự án điện theo quy hoạch. Đồng thời nghiên cứu bổ sung, điều chỉnh cơ chế chính sách để thu hút các nguồn lực tham gia đầu tư phát triển NLTT…

NGUYỄN CƯỜNG - MINH MẠNH