Không gian chữ nghĩa của “ông già sống chậm”

Mấy vạt cây sum súp xanh ngằn ngặt được tỉa tót gọn gàng dọc hai bên lối đi làm cho con hẻm bê tông cũ kỹ như cũ xưa hơn. Cánh cổng phía cuối con hẻm đối diện với khu lăng mộ bé xíu xây bằng đá ong làm cho khu vườn yên ắng như tĩnh lặng hơn. Cái khoảng sân nhỏ và cả cái nền nhà được ghép bằng thứ gạch vuông nhỏ xíu không rõ từ thời nào, làm cho mái ngói rêu phong như phong rêu hơn… Đó là những gì người ta thấy và chắc chắn sẽ có một ấn tượng khó phai khi đến thăm không gian chữ nghĩa của học giả An Chi. Nói không gian chữ nghĩa là bởi, gia tài lớn nhất trong ngôi nhà phong sương màu cũ của ông là sách, sách và sách. Sách đầy trên giá. Sách xếp chồng cao ngất trên bàn. Phù hiệu sách, mô hình sách, hình ảnh, hiện vật của các tên tuổi lớn về sách trong nước và thế giới có mặt ở những không gian trang trọng trong nhà. Cách sắp đặt, bày biện sách và những thứ liên quan đến sách cho thấy, chủ nhân là người khiêm tốn, giản dị, uyên thâm và đầy năng lượng. Là tác giả của hàng chục bộ sách nổi tiếng, trong đó có những bộ tái bản đến cả chục lần vẫn hút hàng ở các hội sách, nhưng ông luôn để sách của mình xếp dưới những bậc tiền nhân.

leftcenterrightdel
Học giả An Chi. Ảnh: LỮ NGÀN

Đã hẹn từ trước nên khi chúng tôi ghé nhà, đã thấy ông ăn vận chỉn chu, phong thái nho nhã đợi sẵn. Ông gọi chúng tôi là bạn, xưng mình. Ông bảo, người lấy ngôn ngữ làm phương tiện và mục tiêu lao động, luôn coi độc giả, đồng nghiệp là những người bạn thân thiết. Tôi nhắc lại kỷ niệm lần đầu tiên được gặp và nói chuyện với ông là tại lễ giỗ nhà cách mạng lão thành quá cố Phan Kiệm, một trong những nhà lãnh đạo chủ chốt của Đặc khu Sài Gòn-Chợ Lớn qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ. Ông nói: “Mình nhớ chứ! Mình còn thấy bạn có mặt trong nhiều cuộc giao lưu tác giả, tác phẩm ở các hội sách. Có lần bạn còn đặt câu hỏi giao lưu với mình mà”.

Gì chứ giao lưu với học giả An Chi thì đã có tới hàng nghìn độc giả và năm nào ông cũng là cái tên “hot” của làng sách TP Hồ Chí Minh. Lĩnh vực nghiên cứu, xuất bản của ông liên quan đến lịch sử, văn hóa gắn với sự hình thành và phát triển phương ngữ Nam Bộ. Hàng trăm địa danh cổ của Sài Gòn và đất phương Nam được ông nghiên cứu, khảo cứu, hiệu đính bằng những căn cứ sử liệu đầy thuyết phục. Chẳng hạn, tại sao lại có những địa danh từ hàng trăm năm trước, đến bây giờ chúng ta vẫn quen gọi, như: Chợ Lớn, Tàu Hủ, Bến Nghé?... Những giá trị hàn lâm trong nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ của dân gian Nam Bộ và Sài Gòn xưa được ông luận giải hết sức khúc chiết, hấp dẫn. Đặc biệt, với cuốn sách “Câu chữ Truyện Kiều”, học giả An Chi đã cung cấp một góc nhìn toàn cảnh với khối lượng ngôn ngữ đồ sộ để chú giải, luận giải nguồn gốc, ý nghĩa từng câu chữ trong tác phẩm nổi tiếng của cụ Nguyễn Du. Nhờ đó, bạn đọc hôm nay mới có thêm kênh thông tin để ngược dòng lịch sử, để “rong chơi miền chữ nghĩa” mà ngẫm, mà suy, mà tự hào về truyền thống cha ông.

Những năm gần đây, ông là một trong những cái tên bảo đảm thương hiệu cho một số nhà xuất bản hàng đầu ở TP Hồ Chí Minh tại các hội sách. Những cuốn sách của ông như “Chuyện Đông chuyện Tây”, “Rong chơi miền chữ nghĩa”, “Câu chữ Truyện Kiều”, “Những tiếng trống qua cửa nhà sấm”… luôn nằm trong tốp những cuốn sách bán chạy nhất.

Ngoài tuổi bát thập, học giả An Chi vẫn rất sung sức trong nghiên cứu, sáng tạo. Cẩn trọng, sâu sắc là tố chất của người làm công tác nghiên cứu, nhất là lại chọn con đường nghiên cứu về ngôn ngữ, văn hóa, những lĩnh vực đòi hỏi phải am tường kim cổ, đông tây. Là người mang cốt cách Sài Gòn, học giả An Chi muốn lưu giữ những nét văn hóa đặc trưng của một Sài Gòn hơn 300 năm bằng các công trình nghiên cứu và cả không gian sống của mình. Ngôi nhà được thừa kế từ tổ tiên, ông bà mà ông là đại diện của thế hệ thứ tư, là một trong những ngôi nhà còn vẹn nguyên nét kiến trúc, văn hóa của Sài Gòn từ đầu thế kỷ 20. Ở đó, người ta không thấy sự ồn ã, náo nhiệt của một đô thị sôi động, thay đổi từng ngày. Ông bảo, các cháu nội ngoại khi đến thăm ông bà, chúng chỉ chơi được nửa ngày là đòi về vì “nhà ông bà buồn quá”. “Nhiều người khi đến chơi cũng khuyên mình nên thay thế ngôi nhà cũ bằng một công trình cao tầng, kiến trúc hiện đại, nhưng mình không có ý định thay đổi. Trong tâm khảm của mình vẫn vẹn nguyên một Sài Gòn yên ắng, hào hoa, phóng khoáng. Bây giờ cái chất hào hoa, nghĩa hiệp vẫn còn, nhưng đã không còn cái yên ắng, thoáng đãng nữa. Sài Gòn quá ồn ã, náo nhiệt. Giữa lòng Sài Gòn hôm nay, mình chỉ là một ông già sống chậm…”-ông cười, tâm sự vậy.

Cái duyên chữ nghĩa và tấm gương tự học

Võ Thiện Hoa sinh năm 1935 trong một gia đình gốc Sài Gòn. Ngay từ thời Nam Bộ kháng chiến, chàng trai trẻ đã được ông bà và các cậu bên ngoại định hướng đi theo cách mạng. “Lúc bấy giờ, chứng kiến cậu mình tham gia kháng chiến đánh Tây, mình mê lắm. Mình nằng nặc xin ông bà và hai cậu cho đi theo cách mạng nhưng cậu nói, mày còn nhỏ, muốn làm cách mạng thì phải được học hành, huấn luyện bài bản chứ không phải cứ thấy thích là được. Kháng chiến còn trường kỳ, muốn thắng thằng Tây thì ngoài dũng khí còn phải có trình độ, kiến thức. Học hành trưởng thành, cậu sẽ cho mày vô chiến khu”-học giả An Chi nhớ lại.

Vậy là Võ Thiện Hoa được đưa vào trường học. Gia đình bên ngoại của ông làm nghề kinh doanh ở Chợ Lớn-Sài Gòn. Vào những năm đầu thập niên 1950, Chợ Lớn là khu vực kinh doanh sầm uất của người Hoa. Vì thế, các cuộc càn quét, bắt bớ của thực dân Pháp nhằm triệt hạ các cơ sở cách mạng ít xảy ra ở khu vực này. Đặc khu ủy Sài Gòn-Chợ Lớn đã tận dụng lợi thế này xây dựng được nhiều cơ sở nòng cốt, tin cậy trong số những thương gia ở khu vực Chợ Lớn. Gia đình Võ Thiện Hoa là một trong số đó. Thường xuyên chứng kiến ông bà ngoại và các cậu, dì bàn bạc công việc với những cán bộ nòng cốt của Đảng, chàng thanh niên Võ Thiện Hoa ngấm dần dòng máu yêu nước. Năm 1955, khi đã trưởng thành, Võ Thiện Hoa được bố trí vượt tuyến ra Bắc. Trong hành trang mang theo có lá thư tay của hai nhà lãnh đạo Mười Cúc (bí danh của đồng chí Nguyễn Văn Linh, Bí thư Đặc khu ủy Sài Gòn-Chợ Lớn) và Năm Thành (bí danh đồng chí Phan Kiệm, quyền Tư lệnh kiêm Chính ủy Đặc khu Sài Gòn-Chợ Lớn), những người được gia đình ông nuôi giấu. Hai cán bộ nòng cốt của Đảng ở Sài Gòn-Chợ Lớn gửi gắm Võ Thiện Hoa cho đồng chí Phạm Ngọc Thạch để được dìu dắt, giúp đỡ đi theo cách mạng. Vì muốn tự lập nên sau khi ra Bắc, ông đã tình nguyện tham gia lực lượng Thanh niên Tiền phong, sau đó được cử đi học nghề giáo rồi nhận nhiệm vụ đi dạy học ở tỉnh Thái Bình. “Tui muốn cầm súng ra trận, nhưng cái duyên lại đưa mình đến với con chữ. Nghề giáo giúp mình được đọc nhiều nên cái máu nghiên cứu ngôn ngữ ngấm lúc nào không hay”-ông nói.

Đất nước thống nhất, Võ Thiện Hoa trở lại Sài Gòn. Một thời gian sau ông nghỉ hưu. Từ đó, ông có thời gian chuyên tâm cho công tác nghiên cứu như một duyên nghiệp.

- Bút danh An Chi có ý nghĩa gì, thưa ông?-Chúng tôi hỏi.

Học giả An Chi đáp:

- Đơn giản thôi. An Chi là nói lái từ “y chang” theo cách của người Nam Bộ. Y chang nghĩa là y nguyên, đúng như nguyên bản. Gọi như vậy là để răn mình, làm nghiên cứu là phải chính xác, phải đúng. Hiểu đúng, hiểu đủ mới nói. Chưa chắc, chưa nói.

Từ những bài viết học thuật đăng trên nhiều báo, tạp chí, dần dần ông An Chi mở rộng đối tượng, phạm vi nghiên cứu. “Chơi” với ngôn ngữ, nhiều khi để hiểu được một chữ, ông phải xới tung hàng chục tài liệu, hàng trăm trang sách, kết hợp cả địa lý, lịch sử, văn hóa và khảo cổ cả ta và tây. Thế nên những công trình nghiên cứu của An Chi chứa đầy giá trị học thuật. Những phát hiện và luận giải của ông đã làm thay đổi nhiều quan niệm vốn đã “đóng băng” trong thói quen đời sống văn hóa con người Nam Bộ cả trăm năm nay. Nhiều lúc đụng chạm, xảy ra tranh cãi gay gắt, nhưng đa phần các phát hiện của ông đều được giới nghiên cứu chấp nhận.

- Ông đã lao động như thế nào để có được khối lượng tác phẩm, công trình nghiên cứu đồ sộ như vậy?

- Mình thường làm việc ban đêm. Buổi tối ngủ sớm, đến khoảng 3 giờ sáng thì dậy đọc và viết. Ngành văn hóa, du lịch TP Hồ Chí Minh đang xây dựng thương hiệu “thành phố không ngủ” để thu hút du lịch, nhưng mình thì đã có cái “thương hiệu” ấy lâu rồi. Ở tuổi mình, làm việc ở khoảng thời gian ấy rất hiệu quả. Đó là lúc tinh thần thoải mái nhất, trí tuệ minh mẫn nhất, năng lượng được tích tụ hiệu quả nhất và là lúc chúng ta được tự do, tập trung nhất.

- Nghề gì cũng đòi hỏi phải có lực lượng kế cận, nhưng hình như công việc mà ông gắn bó, theo đuổi chưa có “truyền nhân”?

- Mình đến với nghề giáo là cái duyên, đến với công việc nghiên cứu là cái nghiệp. Công việc mình làm xuất phát từ đam mê và quá trình tự học, tự nghiên cứu. Bạn đừng lo, giai đoạn nào, thế hệ nào cũng sẽ có người lựa chọn đi tiếp con đường tiền nhân đã đi. Lĩnh vực này kén nhân lực, nhưng không phải không có.

Không sở hữu những học hàm, học vị như đa số các nhà nghiên cứu khác, học giả An Chi đã nêu một tấm gương về tinh thần tự học, tự vươn lên.

Hỏi ông có hài lòng với danh xưng “nhà nghiên cứu”, “học giả”? Ông vuốt tóc, cười vui mà rằng: “Ấy là đồng nghiệp, độc giả và truyền thông gọi mình thế. Gọi sao mình cũng trân trọng. Còn bản thân thì mình nghĩ, mình chỉ là một người hay chữ thôi”…

PHAN TÙNG SƠN