Theo bà Lê Thị Nga, tình trạng một luật sửa nhiều luật diễn ra liên tục. Đó là điều cần nhanh chóng khắc phục, bởi nếu không, cả người dân và nhà đầu tư cùng không thể yên tâm để đầu tư, sản xuất, kinh doanh khi chính sách liên tục bị thay đổi.

Trước tiên, cần khẳng định rằng, việc dùng một luật sửa nhiều luật trong trường hợp các luật không có nhiều quy định phải sửa, có những nội dung sửa đổi liên quan tới nhau là rất cần thiết để giảm tải chương trình xây dựng luật, pháp lệnh cũng như giảm tối đa kinh phí xây dựng luật, thay vì phải tách ra thành nhiều dự án khác nhau để sửa từng luật riêng rẽ.

leftcenterrightdel
Toàn cảnh Phiên họp thứ 23 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội chiều 16-4. Ảnh: Quochoi.vn

Tuy nhiên, nếu nhìn vào chương trình làm việc của UBTVQH và đề nghị điều chỉnh chương trình xây dựng luật, pháp lệnh, có thể thấy, việc dùng một luật sửa nhiều luật dường như đang bị lạm dụng. Điều đáng nói là trong số các luật được đề nghị dùng chung một luật để sửa, có không ít luật chỉ mới được ban hành trong thời gian rất ngắn. Điều đó cho thấy, tầm nhìn dài hạn của các cơ quan soạn thảo luật hoặc sự phối hợp giữa các cơ quan trong xây dựng luật đang thực sự có vấn đề. Nếu cơ quan soạn thảo có tầm nhìn dài hạn và đủ khả năng bảo vệ quan điểm xây dựng luật mang tầm nhìn chiến lược, dài hạn của mình, sẽ không thể có tình trạng luật vừa ban hành đã phải sửa. Nếu các cơ quan phối hợp với nhau tốt hơn thì sẽ không có chuyện khi cơ quan này xây dựng và bảo vệ thành công một dự án luật được thông qua, ngay sau đó phải đề nghị sửa một loạt các luật do các cơ quan khác chủ trì (cũng được thông qua trước đó chưa lâu) cho đồng bộ hoặc để thi hành được luật mới ban hành.

Để tiến tới chấm dứt tình trạng này, các cơ quan hữu quan cần quan tâm đúng mức tới đội ngũ cán bộ làm công tác xây dựng luật, lựa chọn cán bộ thực sự có tâm, có tầm cho công tác xây dựng luật. Ở cấp cao hơn, việc hoàn thành nhiệm vụ xây dựng luật, pháp lệnh cần được cụ thể hóa thành tiêu chí bắt buộc để đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ của người đứng đầu mỗi cơ quan, chẳng hạn xây dựng bộ tiêu chí để lấy phiếu tín nhiệm, bỏ phiếu tín nhiệm, trong đó có tiêu chí hoàn thành nhiệm vụ xây dựng luật, pháp lệnh. Về lâu dài, cần có quy định trong hồ sơ dự án luật bao gồm cả văn bản rà soát toàn bộ các luật, pháp lệnh liên quan, để các bộ, ngành hữu quan nghiên cứu cẩn trọng những nội dung ấy, từ đó có những đóng góp ý kiến kịp thời, tránh sự mâu thuẫn, chồng chéo trong quy định, chấm dứt tình trạng luật này vừa được ban hành, luật khác lập tức phải sửa đổi nội dung liên quan.

Các cơ quan chịu trách nhiệm chủ trì soạn thảo luật, pháp lệnh cũng cần nghiên cứu kỹ lưỡng những điều ước, thỏa thuận quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc tham gia, các thông lệ quốc tế; tham khảo các điều ước quốc tế mà Việt Nam có thể sẽ ký kết hoặc tham gia để xây dựng nội dung chính sách cho phù hợp. Một vấn đề nữa cũng không thể không nhắc tới đó là trách nhiệm của từng đại biểu Quốc hội trong việc biểu quyết, thông qua.

Luật pháp luôn phải thích ứng với sự thay đổi liên tục của thực tiễn cuộc sống. Do vậy, việc sửa đổi, bổ sung luật, pháp lệnh là điều khó tránh khỏi. Tuy nhiên, trong chiều tác động ngược lại, nếu sự thay đổi của luật pháp quá nhiều sẽ dẫn tới những tác động tiêu cực tới cả công tác quản lý Nhà nước lẫn thực tiễn xã hội. Bởi thế, nâng cao tính ổn định của pháp luật cũng là yêu cầu rất quan trọng để bảo đảm sự thuận lợi cho doanh nghiệp và người dân trong đầu tư, sản xuất, kinh doanh.

THÙY LÂM