• * Thiếu tướng Ngô Minh Tiến, Tư lệnh Quân khu 1:

“Phải đánh cho xứng với thanh danh Việt Bắc”

Nhằm đập tan âm mưu của thực dân Pháp mở cuộc tấn công quy mô lớn lên Việt Bắc Thu-Đông năm 1947, Trung ương Đảng và Bộ Tổng chỉ huy đã chỉ đạo quân dân Việt Bắc và các chiến trường cả nước, chuẩn bị mọi mặt phá cuộc tiến công quy mô lớn với nhiều tham vọng của chúng...

leftcenterrightdel
 Thiếu tướng Ngô Minh Tiến, Tư lệnh Quân khu 1.
Trải qua hai tháng chiến đấu liên tục, quân và dân Việt Bắc đã vượt lên khó khăn, gian khổ và thiếu thốn, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, góp sức người, sức của chi viện cho các mặt trận. Đồng bào đã nhường nhà, góp công, góp của xây dựng nơi ăn ở, làm việc, cung cấp lương thực, thực phẩm cho cơ quan đầu não kháng chiến. Lực lượng dân quân, du kích phối hợp với bộ đội chủ lực làm nhiệm vụ tuần tra, canh gác, giữ gìn trật tự, trị an ở địa phương, đưa đón và bảo vệ các lãnh tụ của Đảng, cơ quan Trung ương tuyệt đối an toàn. Đặc biệt, quân và dân Việt Bắc đã tham gia chiến đấu góp phần bẻ gãy cả hai “gọng kìm” phía Đông và phía Tây của địch, vây hãm lực lượng lính dù, phục kích hiệu quả, không cho chúng càn quét và hội quân theo kế hoạch, thực hiện đúng mệnh lệnh của Bộ Tổng chỉ huy là “Phải đánh cho xứng với thanh danh Việt Bắc”. Trong chiến dịch này, quân và dân Việt Bắc đã đánh 167 trận, diệt hàng nghìn tên, bắt sống hàng trăm tên, bắn rơi 4 máy bay, phá hủy và bắn cháy hơn 30 xe quân sự của địch...

Cố Đại tướng Võ Nguyên Giáp, người anh Cả của Quân đội ta đã từng viết: “Trong quá khứ, hiện tại cũng như tương lai, Việt Bắc luôn có vai trò, vị trí hết sức quan trọng đối với sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của dân tộc ta”. Tự hào về Chiến thắng Việt Bắc Thu-Đông 1947, quân và dân Việt Bắc tiếp tục vận dụng sáng tạo vào nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Trọng tâm là nhận thức sâu sắc sự nghiệp xây dựng đất nước luôn gắn với nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, chống mọi biểu hiện mơ hồ, mất cảnh giác; luôn nhạy bén chính trị, xác định rõ đối tượng, đối tác trong giai đoạn cách mạng mới. Tiếp tục đầu tư nguồn lực xây dựng khu vực phòng thủ vững chắc, toàn diện trên nền tảng thế trận lòng dân đối phó với chiến tranh kiểu mới của kẻ thù; phát triển kinh tế-xã hội phải nằm trong quy hoạch tổng thể, gắn với quốc phòng, an ninh. Thường xuyên chăm lo xây dưng LLVT nhân dân vững mạnh về chính trị, giỏi về tác chiến, thực sự là lực lượng nòng cốt, trung thành bảo vệ Đảng, Nhà nước và nhân dân...

XUÂN VŨ (lược ghi)

* Thiếu tướng PGS, TS Nguyễn Đình Ban, Viện trưởng Viện Lịch sử Công an nhân dân:

Góp phần bảo vệ an toàn căn cứ địa cách mạng

Trong chiến thắng Việt Bắc Thu-Đông năm 1947, thực hiện chủ trương của Đảng, xác định rõ việc bảo vệ an toàn tuyệt đối căn cứ địa cách mạng là nhiệm vụ quyết định hàng đầu đến sự sống còn của cách mạng, Nha Công an Trung ương đã chỉ đạo và phối hợp với Công an các tỉnh Cao Bằng, Bắc Kạn, Lạng Sơn, Thái Nguyên, Tuyên Quang... tích cực tổ chức lực lượng, tăng cường công tác bảo vệ các cơ quan kháng chiến.

leftcenterrightdel
 Thiếu tướng PGS, TS Nguyễn Đình Ban, Viện trưởng Viện Lịch sử Công an nhân dân.
Tại ATK, công tác bảo mật, phòng gian được đặt lên hàng đầu và được tuyên truyền, giáo dục sâu rộng trở thành ý thức thường trực đối với cán bộ, chiến sĩ, nhân dân. Lực lượng Công an đã phát động mạnh mẽ phong trào “phòng gian, bảo mật”, tổ chức, hướng dẫn cho quần chúng tham gia giám sát, phát hiện người lạ mặt, những hoạt động nghi vấn. Bằng khẩu hiệu “Ba không” (không nghe, không biết, không thấy), các tầng lớp nhân dân đã thường xuyên nhắc nhở nhau tự giác thực hiện, trở thành nếp sống hàng ngày. Những biện pháp nghiệp vụ công an liên quan đến công tác tổ chức canh gác, phòng gian bảo mật cũng được đặt ra cụ thể với từng địa phương. Mạng lưới “Tình báo nhân dân” được hình thành ở khắp mọi nơi là cơ sở, tai mắt, hỗ trợ đắc lực cho công tác bảo vệ các các mục tiêu.

Trên các mặt trận, các đội công an xung phong của các tỉnh thuộc căn cứ địa tham gia phối hợp với lực lượng quân đội trực tiếp chiến đấu, chặn bước tiến của địch trên các hướng. Công tác bảo vệ lãnh tụ, bảo vệ cơ quan Đảng, Nhà nước tại ATK được xác định là nhiệm vụ trọng tâm, đặc biệt quan trọng, Công an nhân dân đã bảo vệ an toàn Chủ tịch Hồ Chí Minh và các đồng chí lãnh đạo của Đảng, Chính phủ trong các chuyến công tác, di chuyển địa điểm làm việc trong căn cứ ATK...

Góp phần vào Chiến thắng Việt Bắc Thu-Đông 1947, lực lượng Công an nhân dân đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ bảo vệ Đảng, Chính phủ, hậu phương căn cứ; phối hợp, hiệp đồng chiến đấu hiệu quả với Quân đội nhân dân và các lực lượng khác đập tan mọi âm mưu thâm độc và xảo quyệt của bọn thực dân, phản động, tay sai, tô thắm những trang sử oanh liệt, hào hùng của lực lượng Công an nhân dân...

THU TRANG (lược ghi)

* Đại tá Hoàng Quang Thuận, Chính ủy Binh chủng Pháo binh:

Phát triển nghệ thuật sử dụng pháo binh

Tham gia Chiến dịch Việt Bắc Thu-Đông 1947, mặc dù pháo và đạn còn ít, chất lượng kém, thiếu phương tiện chỉ huy và kinh nghiệm chiến đấu, nhưng Bộ đội Pháo binh (BĐPB) còn non trẻ đã chiến đấu anh dũng, lập nhiều chiến công oanh liệt, bắn chìm, bắn cháy nhiều tàu địch, góp phần bẻ gãy các “gọng kìm” tiến công của thực dân Pháp. Cùng với các trận đánh ở Khoan Bộ, Đoan Hùng, Khe Lau,... chiến thuật đặt pháo gần mục tiêu, ngắm bắn trực tiếp qua nòng pháo, chú trọng ngụy trang, nghi binh, lừa địch... đã trở thành cách đánh có hiệu quả trong quá trình bước đầu xây dựng, tìm tòi cách đánh phù hợp với điều kiện địa hình, trang bị của BĐPB những ngày đầu kháng chiến.

leftcenterrightdel
 Đại tá Hoàng Quang Thuận, Chính ủy Binh chủng Pháo binh. 
Những vấn đề về nghệ thuật sử dụng pháo binh trong Chiến dịch Việt Bắc Thu-Đông 1947, đã được hình thành, phát triển rõ nét thể hiện cụ thể ở việc: Tập trung ưu thế lực lượng pháo binh vào hướng chủ yếu, đối tượng, mục tiêu chủ yếu. Trong điều kiện chiến dịch diễn ra trên nhiều hướng, Bộ chỉ huy Khu 10 đã sử dụng những khẩu pháo tốt nhất với 3/5 lực lượng hiện có để phối hợp tác chiến, bẻ gãy gọng kìm tiến công của địch trên sông Lô. Chủ động lập thế trận có lợi, chặn đánh địch cơ động, tiếp tế đường sông, làm mất tác dụng “gọng kìm” phía Tây của địch. Khắc phục nhiều khó khăn, ta đã bố trí 3 trung đội ở 3 vị trí khách nhau dọc sông Lô và đưa trận địa ra sát bờ sông tạo thành thế bí mật, bất ngờ, có lợi của BĐPB, phát huy cao nhất hỏa lực tiêu diệt địch. Đặc biệt, từ việc không hoàn thành nhiệm vụ diệt tàu địch trong ngày đầu, pháo binh của ta đã rút kinh nghiệm đề ra phương châm “đặt gần, bắn thẳng”, mạng lại hiệu quả chiến đấu cao, trở thành cách đánh truyền thống của BĐPB trong kháng chiến chống Pháp...

Những nét độc đáo về nghệ thuật sử dụng pháo binh trong Chiến thắng Việt Bắc Thu-Đông 1947 là cơ sở cho quá trình phát triển nghệ thuật tổ chức, sử dụng pháo binh trong các cuộc chiến tranh giải phóng và bảo vệ Tổ quốc. Từ những kinh nghiệm tích lũy trong chiến dịch này, nghệ thuật sử dụng pháo binh trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ tiếp tục được pháp huy, kế thừa, hoàn chỉnh thành nghệ thuật tác chiến độc đáo, đặc sắc của BĐPB Việt Nam, có ý nghĩa lý luận và thực tiễn to lớn trong nhiệm vụ xây dựng, huấn luyện và sẵn sàng chiến đấu của BĐPB hôm nay...

VŨ HÙNG (lược ghi)

* Đồng chí Triệu Đình Lê, Phó bí thư Thường trực Tỉnh ủy Cao Bằng:

Góp phần bẻ gãy “gọng kìm” phía Đông của địch

Ngày 7-10-1947, thực dân Pháp huy động 12.000 quân tinh nhuệ, mở cuộc tiến công quy mô lớn lên Việt Bắc. Trong đó, Binh đoàn bộ binh thuộc địa do Bôphrê chỉ huy xuất phát từ huyện Đình Lập (Lạng Sơn) tiến theo Quốc lộ 4 lên Cao Bằng để rồi theo Quốc lộ 3 vòng xuống Bắc Kạn bao vây phía Đông Bắc căn cứ địa Việt Bắc. Cao Bằng chính thức trở thành mục tiêu tiến công và chiếm đóng của quân Pháp.

leftcenterrightdel
 Đồng chí Triệu Đình Lê, Phó bí thư Thường trực Tỉnh ủy Cao Bằng.
Ngay sau khi nhận được thông báo của Khu ủy Khu I về cuộc tiến công của địch, Ban Thường vụ Tỉnh ủy Cao Bằng đã triệu tập cuộc họp bất thường để phân tích tình hình và sớm đưa ra nhận định: Sớm muộn gì địch sẽ tấn công lên Cao Bằng. Vì vậy, cần nhanh chóng triển khai lực lượng phòng thủ trên hai hướng Quốc lộ 3 và Quốc lộ 4, đồng thời tăng cường trận địa bắn máy bay địch ở khu vực thị xã Cao Bằng...

Do chủ động đánh địch nên ngay sau khi chúng vừa đặt chân đến Cao Bằng đã vấp phải sự chống trả quyết liệt của dân quân, du kích và bộ đội ta. Đặc biệt, ngày 9-10, ngay khi quân Pháp nhảy dù xuống thị xã Cao Bằng, chúng đã bị đánh trả quyết liệt. Khẩu đội pháo phòng không của Trung đoàn 24, bố trí trên đồi Thiên Văn đã lập công xuất sắc, bắn rơi chiếc máy bay JU-52 của Pháp xuống làng Pác Cáy (xã Hòa Chung, TX Cao Bằng), làm 12 sĩ quan và tên Đại tá Lăm-be, Phó Tham mưu trưởng Quân đội viễn chinh Pháp đi trên máy bay bị biệu địch. Trong trận này, ta đã thu được toàn bộ bản kế hoạch tấn công Việt Bắc của thực dân Pháp, làm cơ sở vững chắc để Bộ Tổng chỉ huy của ta hoàn chỉnh phương án đánh địch, quyết phá tan cuộc tiến công lên Việt Bắc của địch.

Cùng với việc tổ chức, tham gia các trận đánh quân Pháp trên địa bàn tỉnh, với khẩu hiệu “đánh giặc Pháp để giữ nước, tiễu phỉ để giữ nhà”, Tỉnh ủy Cao Bằng đã chỉ đạo các huyện thị có phỉ hoạt động, thành lập Ủy ban Tiễu phỉ, chỉnh đốn các tổ chức bộ đội địa phương, dân quân, du kích, thi đua chiến đấu thực hiện “mỗi viên đạn một quân thù” đạt hiệu suất cao, gây cho địch nhiều tổn thất, thiệt hại nặng nề. Trải qua hai tháng liên tục, quân và dân Cao Bằng đã sát cánh cùng quân dân Lạng Sơn và các lực lượng chiến đấu kiên cường, cắt đứt đường giao thông tiếp tế của địch trên Quốc lộ 4, bẻ gãy “gọng kìm” phía Đông của địch. Thực hiện mệnh lệnh của Bộ Tổng chỉ huy đánh mạnh trên Đường số 4, tiêu diệt địch, bảo vệ căn cứ địa Việt Bắc, quân và dân Cao Bằng đã đánh 34 trận, góp phần tiêu hao sinh lực địch, buộc chúng vào thế bị động, co cụm và đi đến thất bại hoàn toàn...

HOÀNG ÂN (lược ghi)

* Đồng chí Phạm Duy Hưng, Phó chủ tịch UBND tỉnh Bắc Kạn:

Xây dựng thế trận toàn dân đánh giặc

ATK Chợ đồn nằm ở phía Bắc của ATK Việt Bắc, thuộc địa bàn 3 xã Bình Trung, Nghĩa Tá, Lương Bằng của huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Kạn. Từ khi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp bùng nổ, ATK Chợ Đồn được chọn là một trọng những khu vực để các cơ quan Trung ương Đảng, Chính phủ đứng chân lãnh đạo kháng chiến.

leftcenterrightdel
 Đồng chí Phạm Duy Hưng, Phó chủ tịch UBND tỉnh Bắc Kạn.
Sáng 7-10-1947, quân Pháp nhảy dù xuống Bắc Kạn, thị trấn Chợ Mới và ngày hôm sau chúng nhảy dù xuống Chợ Đồn, mở đầu cuộc tấn công lên căn cứ địa Việt Bắc. Để phá thế bao vây, cô lập của kẻ thù, quân và dân huyện Chợ Đồn nói chung và khu ATK Chợ Đồn nói riêng đã phối hợp chặt chẽ với bộ đội chủ lực đánh địch. Nhân dân không chỉ tiếp tế lương thực, thực phẩm cho bộ đội mà còn góp hàng chục vạn ngày công phá đường, dựng chướng ngại vật ngăn cản bước tiến của địch. Từ ngày 7-10 đến 3-11-1947, ATK Chợ Đồn đã cùng với Trường Võ Bị Trần Quốc Tuấn, Trung đoàn 72 và đại đội thoát ly ở huyện, 3 đại đội, 18 trung đội du kích các xã loại khỏi vòng chiến đấu hơn 1000 tên địch, phá hủy 20 xe quân sự... góp phần cùng quân và dân Việt Bắc đánh bại cuộc tấn công lên Việt Bắc của thực dân Pháp.

Thắng lợi của Chiến thắng Việt Bắc Thu-Đông 1947, là do Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lãnh đạo quân và dân ta xây dựng được thế trận toàn dân đánh giặc trên nền tảng vững chắc của cuộc kháng chiến toàn dân, toàn diện, góp phần triệt phá thế trận về quân sự của địch. Đây là bài học lớn để quân và dân ta tiếp tục vận dụng trong suốt hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, giành lại độc lập, tự do cho Tổ quốc.

Đảng bộ, chính quyền và nhân dân Bắc Kạn nói chung, huyện Chợ Đồn nói riêng tự hào đã có những đóng góp to lớn vào chiến công chung của cả dân tộc, đồng thời tiếp phát huy truyền thống, vận dụng những bài học kinh nghiệm quý báu trong kháng chiến vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, xây dựng địa phương ngày càng giàu mạnh...

BẮC HÀ (lược ghi)

* Cựu chiến binh Nguyễn Quân, nguyên chiến sĩ Trung đoàn 72 (thời kỳ Việt Bắc Thu-Đông)

Trung đoàn 72 vượt khó hoàn thành tốt nhiệm vụ

Trong chiến dịch Việt Bắc Thu-Đông, Trung đoàn 72 được giao nhiệm vụ: Vận động thanh niên Thái Nguyên, Bắc Kạn tòng quân cứu nước; huấn luyện bộ đội sẵn sàng chiến đấu để bảo vệ căn cứ địa kháng chiến, chiến khu Việt Bắc, bảo vệ cơ quan Trung ương, giúp đỡ dân ổn định cuộc sống, tăng gia sản xuất.

leftcenterrightdel
 Cựu chiến binh Nguyễn Quân, nguyên chiến sĩ Trung đoàn 72 (thời kỳ Việt Bắc Thu-Đông)
Ngày 7-10-1947, quân đội Pháp tiến hành tấn công lên Việt Bắc, Trung đoàn được lệnh của Bộ chỉ huy chiến khu I, đưa toàn bộ lực lượng tham gia chiến đấu ở chiến trường Bắc Kạn. Từ điểm đóng quân tại huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên, đơn vị tổ chức hành quân ngày đêm, và ngày 10-10-1947 đã có mặt ở Bắc Kạn triển khai đội hình chiến đấu . Với nhiệm vụ “phối hợp với địa phương chủ động tác chiến với địch bằng mọi hình thức”, đơn vị đã tổ chức và hướng dẫn nhân dân thực hiện chiến thuật “vườn không nhà trống”, chuyển của cải vào lán trại cất giấu. Đồng thời tổ chức lại lực lượng theo phương châm “Đại đội độc lập, Tiểu đoàn tập trung”, thực hiện bao vây, quấy rối, phục kích... ngăn chặn không cho địch lùng sục, hành quân, buộc địch phải co cụm, giam chân địch và tiêu hao sinh lực địch.

Hơn 70 ngày tham gia chiến đấu, tuy phải hoạt động phân tán, quân số ít, trang bị thiếu thốn, vũ khí thô sơ: Mỗi đại đội chỉ có từ 1 đến 2 khẩu súng máy, hơn 70% lực lượng phải sử dụng mã tấu... cán bộ, chiến sĩ trung đoàn đã khắc phục mọi khó khăn hoàn thành tốt nhiệm vụ góp phần cùng quân và dân cả nước làm nên chiến thắng Việt Bắc Thu-Đông.

VIỆT HÀ (lược ghi)