Tờ trình nêu rõ: Luật Thi hành án hình sự năm 2010 được Quốc hội khóa XII thông qua tại Kỳ họp thứ 7, có hiệu lực thi hành từ ngày 1-7-2011. Qua hơn 8 năm thi hành luật, công tác thi hành án hình sự đã được tổ chức thực hiện đạt kết quả cao, bảo đảm sự nghiêm minh của pháp luật và thực hiện chính sách khoan hồng, nhân đạo của Đảng và Nhà nước ta trong giáo dục, cải tạo người phạm tội.

Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, Luật Thi hành án hình sự năm 2010 đã bộc lộ những bất cập, hạn chế, một số quy định đã không còn phù hợp với thực tiễn. Do đó, việc sửa đổi Luật Thi hành án hình sự năm 2010 được đặt ra rất cần thiết, để cụ thể hóa các quy định Hiến pháp năm 2013, nhằm bảo đảm thực thi quyền của người đang chấp hành án; đồng thời bảo đảm tính đồng bộ, thống nhất của hệ thống pháp luật, cụ thể là giữa Luật Thi hành án hình sự với Bộ luật Hình sự và các đạo luật khác có liên quan.

Mục đích của việc xây dựng dự án Luật Thi hành án hình sự (sửa đổi) là nhằm hoàn thiện cơ sở pháp lý cho việc thực hiện nghiêm bản án, quyết định của Tòa án, tính thống nhất của chính sách hình sự; kết hợp trừng trị và giáo dục cải tạo người phạm tội, góp phần đấu tranh phòng, chống tội phạm, bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, đề cao hiệu quả phòng ngừa và tính hướng thiện trong việc xử lý người phạm tội, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ lợi ích của tổ chức, cá nhân.

Về phạm vi sửa đổi, so với Luật Thi hành án hình sự năm 2010, dự thảo luật mở rộng thêm phạm vi điều chỉnh về thi hành quyết định tha tù trước thời hạn có điều kiện; về thi hành bản án, quyết định về đình chỉ hoạt động có thời hạn, đình chỉ hoạt động vĩnh viễn, cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định, cấm huy động vốn và các biện pháp tư pháp áp dụng đối với pháp nhân thương mại về phạm tội; về quyền, nghĩa vụ của pháp nhân thương mại chấp hành án hình sự, biện pháp tư pháp.

leftcenterrightdel
Chủ nhiệm Ủy ban Tư pháp Lê Thị Nga trình bày báo cáo thẩm tra dự án Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi). Ảnh: quochoi.vn.

Thay mặt cơ quan thẩm tra, Chủ nhiệm Ủy ban Tư pháp Lê Thị Nga đánh giá cao việc dự thảo Luật đã bổ sung quy định về thi hành án dân sự đối với pháp nhân thương mại. Đây là quy định mới, ở nước ta chưa có tiền lệ, chưa có kinh nghiệm thực tiễn, tuy nhiên, quy định về trình tự, thủ tục chi tiết, hậu quả của việc cưỡng chế thi hành các hình phạt và biện pháp tư pháp đối với pháp nhân thương mại đều chưa đáp ứng yêu cầu đặt ra.

Về tổ chức khu sản xuất, điểm lao động và tổ chức dạy nghề ngoài trại giam (khoản 4 Điều 17), dự thảo Luật bổ sung quy định: “Căn cứ yêu cầu thực tế của công tác giam giữ, quản lý và tổ chức lao động dạy nghề cho phạm nhân, trại giam tổ chức khu sản xuất, điểm lao động, dạy nghề ngoài trại giam; việc tổ chức khu sản xuất, điểm lao động, dạy nghề ngoài trại giam do Bộ trưởng Bộ Công an, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng quy định.”

Chủ nhiệm Lê Thị Nga cho biết, nhiều ý kiến không tán thành quy định nói trên vì cho rằng, cần bảo đảm mục đích chính của công tác tổ chức lao động cho phạm nhân là nhằm giáo dục, cải tạo phạm nhân, đồng thời phải bảo đảm an ninh, an toàn trong quá trình quản lý giam giữ và tổ chức lao động. Để đáp ứng đầy đủ các yêu cầu này thì hoạt động lao động của phạm nhân phải được tổ chức trong trại giam hoặc tại khu sản xuất, điểm lao động thuộc khu vực quản lý của trại giam và phải có sự quản lý, giám sát chặt chẽ của cán bộ trại giam. Quy định này cũng đã được thực hiện ổn định, hiệu quả từ trước đến nay, góp phần quan trọng bảo đảm an ninh, an toàn trong công tác giam giữ, cải tạo.

Cùng với đó, cũng có ý kiến tán thành với dự thảo luật và cho rằng, quy định như dự thảo luật sẽ tạo cơ hội và điều kiện thuận lợi hơn cho việc giải quyết việc làm, tiếp xúc xã hội cho phạm nhân, qua đó nâng cao hiệu quả lao động cũng như ý nghĩa giáo dục thiết thực đối với phạm nhân. Tuy nhiên, Chính phủ cần đánh giá đầy đủ về tác động, làm rõ những tiêu chí, điều kiện cụ thể, tính khả thi để trại giam tổ chức khu sản xuất, điểm lao động, dạy nghề cho phạm nhân ngoài trại giam, nhất là việc trích xuất, tổ chức cho phạm nhân ra khỏi trại giam đi lao động hằng ngày.

Đặc biệt, dự thảo luật cũng bổ sung Điều 27 quy định 9 nhóm quyền của phạm nhân được bảo đảm và 1 nhóm quyền mang tính nguyên tắc: “Phạm nhân được hưởng các quyền khác của công dân nếu không bị hạn chế bởi Luật này và luật khác có liên quan, trừ trường hợp các quyền đó không thể thực hiện được do họ đang chấp hành án tại trại giam, trại tạm giam, nhà tạm giữ”.

Theo Chủ nhiệm Nguyễn Thị Nga, nhiều ý kiến tán thành với quy định của dự thảo Luật vì cho rằng, đối với người chấp hành án phạt tù, do họ bị cách ly khỏi xã hội, bị hạn chế quyền tự do đi lại nên có một số quyền công dân khác sẽ khó bảo đảm thực hiện được đầy đủ như đối với công dân bình thường đang ở ngoài xã hội. Mặt khác, ngoài những quyền cơ bản, thiết yếu nhất (như quyền được bảo vệ an toàn tính mạng, thân thể; quyền bảo đảm chế độ ăn, mặc, ở, thăm và gặp gia đình; quyền lao động, học tập, học nghề...) cần phải bảo đảm thực hiện tốt thì một số quyền khác (như quyền kết hôn, quyền sinh con, quyền được gửi, lưu giữ trứng, tinh trùng... ) đối với người chấp hành án phạt tù còn phụ thuộc nhiều vào điều kiện kinh tế-xã hội, khả năng đáp ứng của Nhà nước. Vì vậy, việc cụ thể hóa quyền con người theo quy định của Hiến pháp đối với phạm nhân phải có bước đi phù hợp để bảo đảm tính khả thi, bảo đảm khả năng đáp ứng của Nhà nước, tránh hình thức.

THẢO NGUYÊN