Vì vậy, để thực hiện hiệu quả chủ trương hội nhập quốc tế của Đảng theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XII, điều quan trọng hàng đầu là phải nâng cao chất lượng công tác tuyên truyền. Thông qua công tác tuyên truyền để mọi cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân nhận thức đúng đường lối, quan điểm của Đảng ta về hội nhập quốc tế. Đây thực sự là vấn đề hết sức cần thiết trong giai đoạn hiện nay. Theo đó, cần thấy rõ hội nhập quốc tế mà trước hết là hội nhập kinh tế không phải chuyện bây giờ Đảng, Nhà nước ta mới đề cập đến.

Trước đổi mới, thời kỳ còn tồn tại hai hệ thống chính trị, xã hội đối lập nhau, trong hệ thống xã hội chủ nghĩa đã ra đời “Hội đồng Tương trợ kinh tế” mà Việt Nam là một thành viên. Thời đó, từ "inte’gration" (tiếng Pháp) hay "intêgraxia" (phiên âm tiếng Nga) được dịch sang tiếng Việt là “nhất thể hóa”. Theo cụm từ trên nghĩa là nhiều nước hóa thành một. Sau đổi thành "hòa nhập". Tuy nhiên, khái niệm "hòa nhập" dễ hiểu là "trộn lẫn, hòa tan" nên đã có những cuộc tranh luận như “đổi mới” hay “đổi màu”, “hòa nhập” hay “hòa tan”.

leftcenterrightdel
 Ảnh minh họa/nguồn internet.
Chuyển sang thời kỳ đổi mới, sau khi hệ thống xã hội chủ nghĩa không còn tồn tại, tư duy về hội nhập kinh tế quốc tế của Đảng ta cũng đổi mới, với ba dấu mốc quan trọng là:

- Dấu mốc 1: Đại hội VI (1986) và Đại hội VII (1991) của Đảng

Đây là dấu mốc mở ra bước đột phá đầu tiên cho hội nhập kinh tế quốc tế. Tuy nhiên, ở cả hai đại hội này, cụm từ “hội nhập kinh tế quốc tế” chưa được sử dụng và nhiệm vụ đặt ra chỉ mới là: “Mở rộng và nâng cao hiệu quả kinh tế đối ngoại”. Theo đó, chủ trương của Đảng là tiếp tục coi trọng các thị trường truyền thống, đồng thời nhanh chóng thâm nhập thị trường mới, mở rộng thị trường khu vực.

- Dấu mốc 2: Đại hội VIII (1996), Đại hội IX (2001) và Đại hội X (2006)

Từ chủ trương “đa dạng hóa và nâng cao hiệu quả kinh tế đối ngoại” của hai đại hội trước, cả ba đại hội này đã trực tiếp dùng khái niệm "hội nhập kinh tế quốc tế" và từ "hội nhập" tiến lên "chủ động hội nhập", rồi "chủ động và tích cực hội nhập". Đại hội X chủ trương: Chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế, theo đó hội nhập sâu hơn và đầy đủ hơn với các thể chế toàn cầu, khu vực, song phương, lấy phục vụ lợi ích đất nước làm mục tiêu cao nhất.

- Dấu mốc 3: Đại hội XI (2011) và Đại hội XII (2016) của Đảng

Đại hội XII chủ trương: “Triển khai đồng bộ, toàn diện hoạt động đối ngoại, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế”. Chuyển từ “chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế, đồng thời mở rộng hợp tác quốc tế trên các lĩnh vực khác” sang “chủ động và tích cực hội nhập quốc tế” là một bước phát triển tư duy quan trọng của Đảng ta.

Vậy tư tưởng và nội dung cơ bản của hội nhập quốc tế nói chung và hội nhập trong từng lĩnh vực cụ thể theo quan điểm của Đảng ta bao gồm những vấn đề gì? Trước hết, về hội nhập quốc tế nói chung có mấy điểm cần chú ý, như sau: (1) Hội nhập quốc tế là xu hướng tất yếu của phát triển trong thời đại hiện nay. Tham gia hội nhập quốc tế không chỉ các nước phát triển mà còn có các nước đang phát triển dưới nhiều hình thức và cấp độ khác nhau. Mỗi quốc gia-dân tộc, xuất phát từ lợi ích chính đáng và điều kiện cụ thể của mình mà lựa chọn tham gia hội nhập quốc tế, nhưng đã tham gia tổ chức hay định chế nào thì phải tuân thủ những nguyên tắc và quy định chung của tổ chức hay định chế ấy. (2) Việt Nam tham gia hội nhập quốc tế theo đường lối, chính sách đối ngoại của mình: Bảo đảm lợi ích tối cao của quốc gia-dân tộc, trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế, bình đẳng và cùng có lợi, thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển, đa dạng hóa, đa phương hóa trong quan hệ đối ngoại; là bạn, là đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế. Coi chủ động và tích cực hội nhập quốc tế là một định hướng chiến lược quan trọng trong đổi mới, xây dựng và phát triển đất nước. (3) Hội nhập quốc tế trong bối cảnh tình hình thế giới có diễn biến phức tạp, khó lường; tình hình trong nước vẫn còn có những khó khăn nhất định, vì vậy luôn đứng trước cả cơ hội và thách thức. Cách nhìn nhận của Đảng ta là: Những cơ hội và thách thức có mối quan hệ qua lại và có thể chuyển hóa lẫn nhau. Cơ hội có thể trở thành thách thức nếu không được tận dụng kịp thời. Thách thức có thể biến thành cơ hội nếu chúng ta chủ động ứng phó thành công. Cần theo quan điểm này để xử lý đúng đắn các tình huống cụ thể.

Về hội nhập trong từng lĩnh vực cụ thể, đáng chú ý nhất là: (1) Hội nhập về kinh tế: Coi hội nhập kinh tế quốc tế là một trong những động lực quan trọng để phát triển kinh tế-xã hội, làm tăng sức mạnh tổng hợp quốc gia. Nắm vững tư tưởng chỉ đạo và nội dung cơ bản các nghị quyết của Trung ương về hội nhập kinh tế quốc tế, nhất là Nghị quyết số 06 của Hội nghị Trung ương 4 (khóa XII) “Về thực hiện có hiệu quả tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, giữ vững ổn định chính trị-xã hội trong bối cảnh nước ta tham gia các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới”. (2) Hội nhập về văn hóa: Đẩy mạnh hội nhập quốc tế trong các lĩnh vực văn hóa, xã hội, khoa học-công nghệ, giáo dục-đào tạo và các lĩnh vực khác. Hội nhập nhưng phải giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa Việt Nam. Đưa các giá trị văn hóa Việt Nam ra thế giới và tiếp thu tinh hoa văn hóa của nhân loại. Chắt lọc những giá trị chung về dân chủ, nhân quyền nhưng kiên quyết chống lại các âm mưu lợi dụng dân chủ, nhân quyền, tôn giáo, dân tộc để chống phá chế độ ta. (3) Hội nhập về quốc phòng, an ninh: Trong khi kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, cần chủ động, tích cực tham gia các cơ chế đa phương về quốc phòng, an ninh, trong đó có việc tham gia các hoạt động hợp tác ở mức cao hơn như hoạt động gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc, diễn tập về an ninh phi truyền thống và các hoạt động khác…

Trên cơ sở nhận thức đúng đường lối, quan điểm của Đảng ta về hội nhập quốc tế và nắm vững tư tưởng, nội dung cơ bản của hội nhập quốc tế trên từng lĩnh vực, thì công tác tuyên truyền, nói rộng hơn là công tác tư tưởng, phải được tăng cường, nhằm nâng cao nhận thức của cán bộ, đảng viên và mọi tầng lớp nhân dân về hội nhập quốc tế. Nâng cao hiểu biết và sự đồng thuận xã hội đối với hội nhập trong từng lĩnh vực bằng các hình thức, nội dung tuyên truyền phù hợp. (1) Tuyên truyền phải có tính thuyết phục. Nói để mọi người nghe, tin và làm theo. Có nghĩa là công tác tuyên truyền không chỉ tác động về mặt tư tưởng mà còn phải dẫn tới hành động cụ thể. Hành động cụ thể, phong trào cụ thể mới là mục đích cao mà công tác tuyên truyền cần đạt tới. (2) Công tác tuyên truyền phải chân thật, khách quan. Nói thuận lợi, thời cơ và nói cả khó khăn, thách thức. Nói thành tựu, những gì đã làm được và nói cả yếu kém, khuyết điểm, những gì chưa làm được. Nói thời cơ, thuận lợi nhưng không gây ra chủ quan; nói khó khăn, thách thức nhưng không làm nản lòng. Nói thành tựu và những gì đã làm được nhưng không gây ra sự tự mãn; nói yếu kém, khuyết điểm nhưng không làm nhụt chí. Các văn kiện của Trung ương đề cập vấn đề hội nhập quốc tế đều thể hiện tinh thần đó. Công tác tuyên truyền cần nghiêm túc vận dụng. Nếu lấy ví dụ việc tuyên truyền về công tác chuẩn bị cho Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP), có thể nói ta đã làm khá tốt trong giới chuyên gia và những người trực tiếp tham gia qua các cuộc hội thảo, tọa đàm và ngay cả trên báo chí. Nhưng tuyên truyền rộng rãi trong nhân dân thì còn phải bàn thêm. (3) Công tác tuyên truyền phải nhằm đúng đối tượng. Có đối tượng trong nước và đối tượng ngoài nước. Có đối tượng là cán bộ lãnh đạo, quản lý hay quần chúng phổ thông. Có đối tượng là những người phụ trách trong từng lĩnh vực khác nhau: Hội nhập kinh tế, hội nhập văn hóa hay hội nhập về quốc phòng, an ninh. Cùng một chủ đề như nhau, nhưng với những đối tượng khác nhau, hình thức và nội dung trình bày cũng khác nhau, không để dập khuôn. (4) Sử dụng sức mạnh tổng hợp của ngành tuyên giáo. Ở đây xin nhấn mạnh đến sử dụng hệ thống báo chí-truyền thông, trong đó có hệ thống thông tin mạng. Do có nhiều loại hình báo chí-truyền thông khác nhau; mỗi cơ quan báo chí-truyền thông lại có chức năng, phương tiện không giống nhau, cho nên có thể nói, sử dụng tốt hệ thống này thì công tác tuyên truyền hội nhập quốc tế sẽ sống động và có hiệu quả hơn rất nhiều.

Cùng với nâng cao chất lượng và đa dạng hóa hình thức tuyên truyền, một vấn đề cũng cần được quan tâm là xây dựng đội ngũ những người làm công tác tuyên truyền hội nhập quốc tế vừa tinh, vừa đông. Bởi suy cho cùng thì cán bộ quyết định tất cả. Đội ngũ cán bộ tuyên truyền hội nhập quốc tế bao gồm: (1) Đội ngũ cán bộ thuộc hệ thống tuyên giáo các cấp, trong đó có những người chuyên làm tuyên truyền về hội nhập quốc tế. Đội ngũ này cần tinh gọn, có năng lực và công tác có hiệu quả. (2) Đội ngũ những người làm báo. (3) Đội ngũ của chính những người trực tiếp làm công tác hội nhập quốc tế (về kinh tế, về văn hóa, về quốc phòng, an ninh và về đối ngoại). Họ chính là những người am hiểu nhất về công việc của mình. Cần coi họ như những cộng tác viên quan trọng, vừa cung cấp kiến thức và tài liệu cho những người làm công tác tuyên truyền chuyên nghiệp, vừa là người trực tiếp làm công tác tuyên truyền trong lĩnh vực họ phụ trách. Đây có thể coi là đội ngũ đông đảo nhất.

Như vậy, để triển khai thực hiện hiệu quả chủ trương về hội nhập quốc tế của Đảng ta theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XII, cần sự vào cuộc quyết liệt của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân; của cả hệ thống chính trị và mọi tầng lớp nhân dân trong xã hội bằng nhiều phương thức, cách làm. Tuy nhiên, để nắm vững, hiểu đúng, tổ chức thực hiện hiệu quả thì vấn đề quan trọng hàng đầu là phải nâng cao chất lượng công tác thông tin, tuyên truyền về hội nhập quốc tế.

HÀ ĐĂNG - Nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Trưởng ban Tư tưởng Văn hóa Trung ương