 |
| Nhiều di chỉ khảo cổ tồn tại ở khu vực lòng hồ thủy điện Sơn La. Ảnh: Internet |
31 di chỉ khảo cổ có cách đây hàng vạn năm-đó là con số mà Viện Khảo cổ (Viện Khoa học xã hội Việt Nam) thống kê được sau 3 đợt tập trung tiến hành khai quật (từ tháng 3-2008 đến tháng 6-2009) tại khu vực lòng hồ thủy điện Sơn La. Đây chính là những di chỉ khảo cổ sẽ góp phần nghiên cứu giai đoạn từ cuối thời đại đá cũ cho đến đầu thời đại kim khí vùng Tây Bắc, dọc lưu vực sông Đà, một trong những nguồn hợp tạo dựng các nền văn hóa Sơn Vi hậu kỳ đá cũ vùng trung du Bắc bộ và các văn hóa Tiền Đông Sơn ở lưu vực sông Hồng. Đây cũng là mốc hết sức quan trọng minh chứng cho sự chuyển biến từ lang thang dọc thềm sông sang định cư hang động; từ săn bắt hái lượm sang trồng trọt sơ khai; từ dã man sang văn minh của người Việt vùng Tây Bắc.
Vùng di sản có từ hàng vạn năm
Khi đập Thủy điện Sơn La được hoàn thành, cả một vùng rộng lớn dọc thượng nguồn sông Đà, từ Pa Vinh (Quỳnh Nhai-Sơn La) lên tận Mường Lay-Nậm La (Lai Châu) sẽ bị ngập nước. Con đập cao hơn 138 mét và dài hơn 1.000 mét, tạo ra một biển hồ có diện tích lên đến 224 ki-lô-mét vuông.
Trước khi khởi công thủy điện Sơn La, vào tháng 5-2005, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt báo cáo tiền khả thi: "Bảo vệ cấp thiết và phát huy giá trị di sản văn hóa vùng lòng hồ và vùng tái định cư thủy điện Sơn La", giao Bộ Văn hóa - Thông tin (nay là Bộ Văn hóa-Thể thao và Du lịch) chủ quản dự án. Trong dự án lớn có dự án thành phần “Khai quật, di dời và xử lý các di tích khảo cổ học lòng hồ thủy điện Sơn La” dưới cốt 215 mét. Nhưng thực tế, những di chỉ khảo cổ nằm trong lòng hồ thủy điện Sơn La đã được các cán bộ khảo cổ tiến hành từ năm 1998 với tên gọi “Chương trình điều tra khảo cổ học khả thi vùng hồ thủy điện Sơn La”.
Năm 2008, các nhà khảo cổ đã bắt tay khai quật được 31 di chỉ khảo cổ (15 di chỉ khai quật trên đất Sơn La, 10 di chỉ trên đất Lai Châu và 6 di chỉ trên đất Điện Biên) hầu hết là hang động, mái đá, thung lũng, bãi bồi, thềm sông, nơi cư trú, mộ táng... được xác định niên đại thuộc thời kỳ đồ đá cũ, đồ đá mới, thời đại kim khí tương ứng với các nền văn hóa Sơn Vi, văn hóa Hòa Bình và Tiền Đông Sơn... Ví dụ như Hang Lán Mỏ khai quật tại xã Mường Trai, huyện Mường La (Sơn La), được các nhà nghiên cứu xác định niên đại của di tích khoảng vài ba vạn năm, tồn tại kéo dài đến 3.000 năm cách ngày nay, thuộc hậu kỳ đá cũ văn hóa Sơn Vi.
Đợt khai quật mới đây diễn ra từ tháng 3 đến tháng 6-2009, các nhà khảo cổ đã khai quật được 15/31 địa điểm lòng hồ thủy điện Sơn La, và nét đặc sắc nhất là ở di chỉ mộ táng Hang Tọ 1 và Hang Tọ 2, xã Chiềng Bằng, Quỳnh Nhai. Trong các mộ táng này thể hiện táng thức của cư dân hậu kỳ đá cũ cách đây vài vạn năm qua mộ chôn. Ngoài táng thức, thì di cốt cũng là tư liệu quan trọng để các nhà nghiên cứu tìm hiểu thành phần nhân chủng cư dân các nền văn hóa cổ xưa ở miền Tây Bắc. Tổ hợp di vật nổi bật nhất trong các di chỉ khai quật là nhóm công cụ cuội ghè đẽo, có sự thống nhất cao về chất liệu, kỹ thuật chế tạo, loại hình của văn hóa Sơn Vi.
Từ hàng nghìn hiện vật đã thu thập ở nhiều mái đá, hang động cổ dọc sông Đà, các nhà khảo cổ đã kết luận, vùng lòng hồ thủy điện Sơn La chứa đựng một khối lượng di sản văn hóa khổng lồ, có ý nghĩa quan trọng đối với việc nghiên cứu tiền sử và sơ sử Việt Nam, là minh chứng cho sự tồn tại của một vùng đất có lịch sử lâu đời. Các hiện vật còn hé lộ cho các nhà nghiên cứu văn hóa và khảo cổ tin rằng, vùng lưu vực sông Đà có quan hệ văn hóa mật thiết với châu thổ sông Hồng và các vùng xa hơn, tạo nên những sắc thái văn hóa riêng hết sức đa dạng. Theo thời gian, vùng đất Sơn La đã hình thành và phát triển nhiều nét văn hóa truyền thống phong phú và đặc sắc. Nơi đây không chỉ là xứ sở của hoa ban, quê hương của xòe Thái, khèn Mông, mà còn là cái nôi của các làn điệu hát Then - đàn tính... Nói như PGS-TS Nguyễn Khắc Sử - Trưởng đoàn di dời các di chỉ thuộc lòng hồ thủy điện Sơn La, thì: “Việc bảo tồn, di dời phải khoa học, chu đáo và triệt để, là bởi vì chúng ta không có cơ hội làm lại lần thứ hai".
Không phải để “chữa cháy”
Đó là lời khẳng định của Tiến sĩ Bùi Văn Liêm-cán bộ thực hiện dự án, khi chúng tôi đưa ra băn khoăn, rằng đến năm 2010, hồ thủy điện Sơn La lớn nhất Đông Nam Á sẽ hoàn tất, đe dọa nhấn chìm nhiều giá trị văn hóa kết tinh từ ngàn đời của vùng đất này, khoảng thời gian để di dời các giá trị văn hóa đó liệu có kịp? Tiến sĩ Bùi Văn Liêm cho rằng, đây là dự án bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa lòng hồ lớn nhất từ trước đến nay cả về thời gian, lực lượng (14 cán bộ khảo cổ), kinh phí (8 tỉ đồng) và trong 3 năm các nhà khảo cổ sẽ chạy đua với thời gian để hoàn thành trước mùa nước ngập. So với các di sản lòng hồ thủy điện Hòa Bình, Thác Bà hay Yaly... là những công trình thủy điện lớn, nhưng hầu hết đều được xây dựng những năm sau khi đất nước giải phóng, Luật Di sản chưa thành văn, thêm vào đó là yếu tố tác động của môi trường, nên hầu hết các di sản này đều không được khảo cổ và bảo vệ chu đáo.
Viện Khảo cổ đã phối hợp với Sở Văn hóa-Thể thao và Du lịch các tỉnh Lai Châu, Điện Biên và Sơn La khai quật 31 di chỉ lòng hồ thủy điện Sơn La. Những hiện vật tại các di chỉ khảo cổ sẽ được chỉnh lý sau khi khai quật và lưu giữ tại kho của bảo tàng các tỉnh. Những hiện vật dân tộc học cũng sẽ được cán bộ bảo tàng tiến hành sưu tầm và lưu giữ. Đối với di sản văn hóa phi vật thể, sẽ tổ chức nghiên cứu, quay phim...
Tuy nhiên, qua quá trình khai quật, các nhà khảo cổ cũng đã gặp nhiều khó khăn, do các di chỉ khảo cổ này thuộc di tích ngoài trời-thềm sông và di tích hang động-mái đá. Các di tích thềm sông đều phân bố dọc đôi bờ sông Đà, do nằm sát bờ sông, thường xuyên bị nước lũ và các tàu cuốc đào vàng xâm hại, nên có di tích, tầng văn hóa bị xáo trộn...
Với những tư liệu và kết quả khai quật tại các di tích của vùng lòng hồ thủy điện Sơn La, thì vấn đề văn hóa sơ kỳ đá mới vùng Tây Bắc và vấn đề con đường phát triển hậu Sơn Vi ở vùng này đang dần được hé mở. Cũng như vậy, vấn đề các di tích Tiền Đông Sơn miền núi Tây Bắc và sự đóng góp của chúng cho sự hình thành quốc gia cổ đại Việt Nam, qua mộ táng đang được các nhà khoa học quan tâm nghiên cứu. Và ánh sáng của tài liệu mới vùng Tây Bắc-chính là những tư liệu, hiện vật trong các di chỉ của văn hóa tiền sử-sẽ là những sử liệu thật sinh động để trưng bày tại các bảo tàng Trung ương và địa phương, góp phần giáo dục truyền thống lịch sử văn hóa cho thế hệ trẻ.
VƯƠNG HÀ