Có những bản lề chưa thật khít nhưng cánh cửa vẫn tàm tạm mở đóng được. Thay, sửa một từ trong bài thơ cũng giống như lắp lại bản lề cho thật khớp, lay lay cánh cửa nghe “khậc” một cái, mới thật an tâm, hoàn hảo. Từ dùng như thế mới thật trúng bóc, không kênh, không gượng. Bài thơ đóng lại thoải mái. Mở ra xem xét, ngắm nghía, kể cả xoi mói, thô bạo đạp đạp thử vào cánh cửa cũng không sao.
Nhìn đại quan là vậy, dĩ nhiên sửa, thay từ trong thơ đau đầu hơn nhiều. Nhưng không phải chỉ đau đầu, nghĩa là chỉ vận dụng lý trí, lý lẽ. Đa số những góp ý chủ quan, vội vã đều thiên về lý là chính. Đứng ngoài bài thơ, ngoài tâm trạng, tâm thế tác giả mà hoa lên những lập luận khôn ngoan. Kết quả bài thơ ấy bị những từ ngoại nhập!
Làm nên một bài thơ từ khá trở lên bao giờ cũng được ở trong một không khí tâm trạng. Chữ nghĩa cứ nhô, hiện lên trong dòng lưu chuyển cảm xúc vào khoảnh khắc ấy, phút ấy, giờ ấy. Những bậc kỳ tài, sau những ấp ủ dữ dội thật lâu rồi, vào quãng bất chợt của hạnh phúc sinh nở, thường được phát, xong ngay.
Chẳng hạn:
Chiếc bách buồn về phận nổi nênh
Giữa dòng ngao ngán nỗi lênh đênh
(Hồ Xuân Hương)
Trời không chớp bể với mưa nguồn
Đêm nảo đêm nao tớ cũng buồn
(Trần Tế Xương)
Những từ ngữ có một sức nguyên vẹn, thắm, giòn, tươi ở tầm những thế kỷ! Những ai tài chứ em thì có khi xong bài thơ rồi vẫn còn cảm thấy mắc mắc, có một cặp hoặc một từ nào đó chưa “khậc”. Nhưng muốn thật nghiêm cẩn, lý tưởng với việc sửa, thay thì phải cố gắng sống lại, tái hiện lại cả cái không khí tâm trạng sáng tác, cái khoảnh khắc ngàn vàng đau đớn và sung sướng kia. Âm thầm, khẽ khàng hết mức mà lắng nghe, nhìn ngắm, nâng giấc từng từ nhô lên, hiện lên. Không được hùng biện lập lý, láu lý. Cũng không được sập cửa đánh ầm, xoa tay. Chắc chắn đó sẽ là từ chuẩn, đấy mới chính là từ ta phải tìm ra, khi “nàng” đứng tự nhiên vào chỗ ấy của câu thơ, đoạn thơ, bài thơ một cách duyên dáng hơn, nổi hơn, ăn ý hơn. Ta lúc ấy mới hoàn tất công việc. Thay, sửa từ bao giờ cũng cần vô cùng thận trọng.
MÃ PÍ LÈNG