Tất cả cái mới đã bị các nhà hiện đại khai thác cạn kiệt. Đây là thời văn chương (của sự) cạn kiệt the literature of exhaustion, John Barth nói mạnh mẽ thế. Nhưng mươi năm sau thôi, ông nghĩ khác, tuyên bố khác: Đây là thời văn chương (của sự) phong dật the literature of replenishment (John Barth, 1980). Khi khám phá ra rằng mỗi văn bản là một liên văn bản mặc cảm đụng hàng không còn nữa. Phỏng nhại là sáng tạo, cắt dán là sáng tạo.
Rất nhiều nhà thơ lẩy ra các thành ngữ, tục ngữ hay ca dao có nội dung gần nhau, sắp đặt chúng theo hàng dọc, hàng ngang để tạo thành bài thơ; không ít người viết còn lượm nhặt các khẩu hiệu, các bảng cấm hay khuyến dùng để làm ra bài thơ nữa. Nhà thơ cũng có thể sử dụng tin từ tờ báo giấy hay thông tin trên mạng để làm thứ chất liệu cho bài thơ, như từ, cụm từ, hay cái gì nữa bất kì sẵn có; họ chế biến tùy ý, thêm vài nhận định chủ quan để làm ra bài thơ.
Nói thế không phải vì thế mà thơ đương đại không có sự sáng tạo các thủ pháp đặc thù của nó.
Khi thức nhận rằng lịch sử (hay tiểu sử cá nhân) không phải là quá khứ mà là câu chuyện về quá khứ do một cá nhân hay cộng đồng kể lại. Nó chỉ là một trong những diễn ngôn discourse, nhà thơ không e ngại nặn ra hàng loạt thông tin sai lệch, dư thừa và không cần thiết về một cá nhân, rồi nhét bừa vào bài thơ. Đó chính là thủ pháp siêu hư cấu sử kí historiographic matafiction, một lối viết không những làm méo mó lịch sử một cách có chủ ý, hòa lẫn lịch sử và giả tưởng, xáo trộn trật tự thời gian quá khứ nhằm phá vỡ tính mạch lạc của lối kể truyền thống.
Thể hiện tinh thần độc sáng, hầu hết các nhà thơ hiện đại chọn thơ tự do không vần trong các sáng tác, tránh tối đa các thể thơ truyền thống. Nhà thơ hậu hiện đại đối xử không phân biệt truyền thống hay hiện đại. Họ xài đủ thể thơ có trong tay: lục bát, thơ tám chữ, thậm chí thơ Đường luật. Đó là cách làm của phong trào thơ tân hình thức, chủ trương “sử dụng thi pháp đời thường thay thế thi pháp cảm tình”.
Khác với thơ truyền thống chỉ nhấn vào vần và nguyên âm, nhà thơ đương đại chế tạo ra loại thơ phụ âm rất đặc thù. Cách làm này nhà thơ cổ điển cũng đã thử (hay ngẫu nhiên), như Tố Hữu: “Mà mưa xối xả trắng trời Thừa Thiên”; Đặng Thân đẩy nó đến cùng bằng vận dụng thủ pháp này triệt để trong các bài thơ của mình.
Thơ graphic sử dụng phần mềm graphic của thời vi tính để sáng tạo tác phẩm mới lạ mang nội dung của thời đại để tạo một cảm xúc đặc biệt. Dấn thêm một bước, Nguyễn Hoàng Nam còn chế tạo ra loại “thơ phân thân” chưa từng có tiền lệ. “Một bàn chân” tự tách ra khỏi chủ thể con người để làm cuộc hành trình độc lập với cả chuỗi hành động qua cuộc phiêu lưu riêng lẻ, không liên quan đến con người từng “sở hữu” nó.
Nguyễn Tôn Hiệt với thơ động tác. “Trăm năm trong cõi/người ta” là bài thơ gồm toàn danh từ hay danh từ kèm động từ; chủ từ hoàn toàn vắng mặt, tính từ và trợ động từ càng không. Nhà thơ phó mặc người đọc với trò ráp nối và diễn dịch chủ quan trong một hoàn cảnh, tâm trạng nhất định của họ.
Thơ thị giác visual poetry của Nguyễn Hoàng Tranh, thơ cụ thể concrete poetry của Lê Văn Tài, thơ photo… kết hợp ngôn ngữ và hình ảnh; cả hai yếu tố này bổ trợ cho nhau tạo nên hiệu ứng thơ đặc biệt. Nhà thơ hôm nay không từ chối hay chống lại mà tận dụng mọi lợi thế của khoa học kỹ thuật, để làm thơ.
Không ít nhà thơ viết truyện rất ngắn nhưng vẫn cứ xếp nó vào mục thơ, có kẻ viết thơ như là viết tiểu luận ngôn ngữ. Quan điểm của chủ nghĩa hiện đại trong xáo trộn thể loại để làm ra một tác phẩm độc sáng, ngược lại hậu hiện đại: Giải khu biệt hóa và phi tâm hóa ngay trong các thể loại. Kết hợp và trộn lẫn các thể loại, bên cạnh nhằm mục đích tạo nên một thể loại văn chương khác, mới, họ còn muốn nhấn vào tính liên văn bản của tác phẩm văn chương. Khi họ muốn gọi nó là bài thơ thì đó chính là bài thơ.
Cuối cùng, sáng tác hiện đại rất ý thức về tác giả, về bản quyền tác giả trên tác phẩm mình. Bởi họ tìm tòi và độc sáng. Nhiều nhà thơ đương đại nghĩ ngược lại: Chẳng có gì là độc sáng cả. Mỗi sáng tạo là một vi phạm bản quyền, nhiều hay ít, ẩn hay hiện, lộ liễu hay kín đáo, nên họ không kiêng nể sử dụng ngay tác phẩm có sẵn và chế tác trên nó.
Chắc chắn sẽ có phản ứng: Thơ như thế mà “khó” gì, cứ kí sinh trên tác phẩm của người khác, cứ xáo bừa mọi hình ảnh/ngôn từ/ý tưởng như nhà cái bầu tôm xóc đĩa làm thì cũng xong cái bài thơ. Và thơ để làm gì, nếu không sáng tạo được thêm thủ pháp mới, phương cách mới để khám phá hiện thực, nói lên tiếng nói sâu sắc, mới lạ để làm rung động lòng người?
- Đúng.
Thời đại khác, thơ cũng phải khác. Khác từ cảm thức cho đến cách viết, khác đến cả cách tiếp nhận. Thế hệ (không phân biệt ở tuổi tác) khác, lối viết khác và lối viết đó cũng đòi hỏi một bộ phận độc giả khác. Chính những khác này thúc đẩy nền văn học dấn tới, thúc đẩy sự tiến bộ của tinh thần nhân loại.
INRASARA