Nắng ở vùng xích đạo thật đáng sợ. Mặt trời đã tác quái nhiều giờ, còn cố gạn nốt phút cuối ngày để hun lửa, rồi mới chịu chui vào ngấn nước xanh đại dương. DeLi mới về làm ở trung tâm huấn luyện cứu nạn khẩn nguy Châu Á, (SATA) trên đất Xingapo này. Hai tháng một, DeLi mới về nhà một lần. Vợ con DeLi đang ở thành phố San Diego, bờ tây nước Mỹ. Công việc hàng năm ở trung tâm này là giảng và thị phạm các động tác thoát hiểm, cứu nạn cho người và trực thăng bằng phao chuyên dùng, sử dụng đài cấp cứu nổi trên biển… sao cho bài bản, thuần thục, để phi công hoàn thiện chứng chỉ theo tiêu chuẩn bay châu Âu và quốc tế.
Ngày mai DêLi trở về Mỹ, cả nhà đang chờ DeLi để quyết định xem hè này sẽ đi nghỉ ở đâu. Hy vọng là một mùa hè đi nghỉ, xa nước Mỹ.
Tháng qua, DeLi huấn luyện một khoá cho phi công các nước thuộc nhiều quốc tịch, người Mã Lai, người Hồng Kông, người Phi líp pin, Thái Lan và người Viêt Nam…Những chàng trai thật dễ chịu. DêLi là người Việt, đã nhập quốc tịch Mỹ. Cái tên DeLi cũng chỉ là việc đảo chữ Lý Đề, tên cúng cơm cha mẹ đặt cho thuở Đề sinh ra ở Rạch Giá mà thôi.
Vốn là phi công trực thăng của Phi đoàn Lôi Điểu, đóng tại căn cứ Biên Hoà trước đây. Lý Đề là lái chính loại UH-1. Khi Việt Cộng đánh vào Quân khu 3, tháng 4-1975, Lý Đề đã tích luỹ được vài ngàn giờ bay …
Dốc ly rượu thứ ba, Đề trầm ngâm nhìn về phương Bắc, nơi có những cơn mưa trên biển thẫm màu mây. Chỉ cách đây chừng hơn một giờ bay là về tới dải đất Việt Nam. Nơi ấy có những ngọn đồi miền Đông thoai thoải trong nắng xanh màu cốm. Vào mùa muông thú động dực, các phi công thường lợi dụng bay công vụ, lén chỉ huy, dông trực thăng lên vùng rừng Mã Đà, thượng nguồn Đồng Nai săn thú… Đề nhớ mãi một lần, khi nắng xế, trời đã chập chiều, tổ bay UH phát hiện một đàn nai đang vờn nhau giao phối bên lạch nước. Theo “chiến thuật thợ săn”, Đề cho trực thăng sà thấp dần độ cao từ hướng trong rừng, lùa đàn nai hoảng sợ chạy túa ra trảng trống. Thật tuyệt, cả ba con nai vàng sậm chạy tưng tưng trên trảng cỏ. Xạ thủ kịp ngồi bên lia một loạt đạn hạ một chú nai tơ. Đề đảo hướng trong khoảng hẹp luớt theo một con nai bự, nó chạy zích zắc theo bản năng sinh tồn thoát hiểm truớc con “ác điểu” săn mồi. Nó khôn khéo lợi dụng các lùm cây lúp xúp lẩn tránh. Đề cũng chẳng phải tay vừa, “Con ác điểu” khẽ lật bụng, nghiêng ngửa, săn mồi, “nó” hạ thấp độ cao hơn nữa, đĩa cánh quạt rạp gió xô dạt đám lau sậy, tạo cơ hội cho xạ thủ ổn định tầm bắn. Lúc này con nai đã nằm trong tầm ngắm kiểm soát của tay xạ thủ. Nhưng con thú bỗng khựng lại, quay đầu, quặt một góc đối, khiến cho trực thăng trượt đi theo quán tính. Thế là mất hút con mồi! Tiếc quá. Dẫu thế nào thì bán kính vòng lượn hẹp cũng không dễ dàng đưa nhanh con mồi vào tầm ngắm được nữa. Rất nhanh Đề bỗng nhận ra “nó” đang tung vó phía bên trái, lao về bìa rừng. Hình như chân nó đã bị thương. Cuộc thách đố tốc độ giữa phi cơ và con vật què vó bỗng trở nên gay gắt, bên nào nhanh sẽ thắng. Đề tăng vòng quay thu con vật vào rãnh ngắm , khoảng cách mỗi lúc một gần. Với tốc độ vài trăm mét một giây, con vật chắc thua con người. Coi chừng! tiếng ai đó giật giọng. Theo phản xạ Đề giật vội cần lái, chiếc máy bay bỗng vọt lên quyết liệt. Hú vía! một cây lớn chắn ngang đường bay. Phúc tổ! nếu mải bám theo con thú , mất mạng như chơi !!! Đã giỡn thì giỡn luôn, Đề giảm tốc, quay một góc thật gắt vòng lại. Lạ thay con thú không chạy nữa. Nó đứng đó như chờ đối thủ! Một chân nó ghếch lên bờ đất trong “dáng đứng tè” vừa thản nhiên, vừa ngạo mạn. Máy bay vọt đi theo quán tính, xả ra tràng liên thanh khục khục như ho khan. Biết làm sao! rừng đã là nhà của nó rồi!
Tia nắng cuối ngày ảm đạm trong tiếng súng nổ bắn phá tan hoang của lũ người hằn học. Bất giác Đề nhìn kim xăng, nó đang tụt về gần vạch đỏ trên đồng hồ. Tình thế này… con nai tơ đành bỏ lại trong sự nuối tiếc của cả tổ phi hành.
Ở Miền Đông, những cuộc đi săn lén có thể kéo dài tới mùa mưa. Cho dù chỉ huy phi đoàn luôn cảnh báo và cấm đi săn bằng trực thăng. Đó là trò rất hấp dẫn nhưng nguy hiểm. Rồi chiến sự ngày càng ác liệt, lan dần xuồng Di Linh, Định Quán. Đồng Nai Thượng không còn là nơi an toàn để các phi vụ trực thăng tung hoành nữa. Những lúc phi hành trên vùng chiến khu của đối phương, Đề đã may mắn tránh được nhiều phen nguy hiểm. Vợ Đề chăm đi chùa, luôn nhắc nhở chồng, phải thờ chữ nhơn đức. Nghề bay, tài khéo chẳng lại, nếu không có “nhờ ông bà, trời phật che chở”.
Lại phải kể một lần Đề bay, mang rốc két theo chỉ điểm của OV-10 (phi đoàn quan sát), nhằm bắn vào một điểm nghi vấn ven sông Bé. Khi trở về, trực thăng của Đề sà sát mặt nước, khiến một xuồng trên sông bị gió thốc, nước xoáy lật nghiêng, nhìn rõ một cô gái. Cả phi hành trên “tàu” cuời hô hố. Phấn khích, Đề cho trực thăng bay trở lại. Lần này hoa tiêu phát hiện trong đám bần gần đó không chỉ một chiếc xuồng mà có thêm hai chiếc nữa. Việt Cộng! một thoáng ý nghĩ, Đề vọt xa quan sát kỹ lưỡng, rồi quay trở lại lập góc bắn trong ánh sáng ngược. Mặt sông loang loáng ánh mặt trời, Đề ấn nút, hai trái xịt khói nối đuôi nhau lao vào đám bần nổ tung toé nước. Truợt! Hai chiếc xuồng khéo léo tăng tốc và bất ngờ chia hai hướng, cắt một cua thật nhanh, vòng vào các con lạch um tùm. Nhưng rồi một xuồng lại bị thu vào vòng ngắm của xạ thủ. Như con ó Mã Lai vờn chuột đồng, phi cơ lắc ngang, lắc dọc hung hãn như muốn nuốt tươi con mồi. Lạ thay chiếc xuồng đang ngon trước mũi súng bỗng nhiên mất hút. Họ tự đánh chìm xuồng trước khi vòng thứ hai trực thăng quay lại. Tổ bay cay cú hạ độ cao lướt tới đám bần, treo trực thăng như bói cá, tăng ga quạt nước, khiến nước sông bắn lên tung toé, tạo nên những quầng ngũ sắc thật kỳ ảo. Nhưng lần này thì … Đề kịp nhìn rõ một tia lửa loé lên, chói hơn quầng ngũ sắc. Trời! Đề thất thanh, cả một tràng AK- 47 giành trọn cho tổ bay, hất ngược chiếc UH lên cao. Lái phụ hét toáng lên trong cáp nghe “phi cơ dính đạn rồi”. Vẫn nghe tiếng động cơ phành phạch, làm vài động tác, Đề cảm giác phi cơ vẫn cân bằng. Nhưng chưa kịp định thần thì phát hiện ra vòng quay tụt xuống rất nhanh! Vọt ra xa, chiếc trực thăng liều mạng hạ gấp xuống bờ đất, rung chuyển toàn thân. Một lực mạnh thốc từ mông lên tưởng chừng chùn cột sống. Nhìn lại thì chiếc trực thăng chỉ cách mặt nước chừng vài mét! Ông bà ơi! 4 vết đạn AK-47 Việt Cộng bắn xé rách vỏ nhôm dày, làm thủng thùng dầu, may không bắt lửa. Đêm ấy phi đoàn phải điều 4 trực thăng vũ trang lên yểm trợ chu vi 6 ki lô mét. Gần sáng phi cơ CH-64 lên cẩu máy bay bị nạn về căn cứ. Bước xuống phi trường, không ai nói một câu, tổ lái đi lầm lũi trong pha đèn đỏ chớp loang loáng, mặt cắt không hột máu. Một bài học nhớ đời.
Tuy vậy, máu người hùng không gian còn bứt rứt, khắc khoải chưa nguôi sau mỗi chuyến phi hành. Đề vẫn luôn tin rằng mình có kỹ thuật lái tốt. Cuối thập niên 70, cùng hàng trăm khoá sinh học lái trực thăng ở trường Fort Rucker. Đề ra trường, vẫn luôn tự hào đựợc đào tạo tại Hoa kỳ. Những lần nhìn vài chục “con” UH-1 của phi đoàn Lôi Điêủ, Lôi Vũ bay rợp trời Biên Hoà, Hố Nai, Long Bình, Đề thấy Không quân Việt Nam Cộng Hoà thật hùng tráng oai phong.
Phi trường Biên Hoà, nơi Đề đóng quân là một phi trường lớn. Nhiệm vụ của phi đoàn Lôi Điểu không chỉ yểm trợ cho quân đoàn 3 mà còn đi ứng cứu các tiền đồn thuộc 4 vùng chiến thuật. Từ mùa khô năm 1973, cấp trên của phi đoàn thường xuyên cảnh báo về “nguy cơ Cộng quân xâm lấn”, yêu cầu các phi công thường xuyên có mặt tại phi trường 24/24 giờ. Là lái chính, nhưng Đề nhiều khi cũng trao lái cho phụ, qua làm xạ thủ, Y còn nguyên máu phiêu lưu, thích thú nhìn 6 nòng súng quay tít, đạn tuôn ra một ngàn hai trăm phát một phút, tưởng tượng ra nào nai, nào bò rừng đổ ngã. Còn đối phương? ngoài hình ảnh lờ mờ cô gái trên sông Bé, bị đắm xuồng hồi nào, Đề chưa thấy mặt Việt Cộng bao giờ. Chỉ thấy những vạt rừng cháy xém napan, những thôn ấp trụi trơ cây lá.
Chuyến trực thăng cuối cùng Đề rời phi đạo Biên Hoà vào một buổi chiều chạng vạng, khi tin Long Khánh bị đối phương tràn ngập, Dầu Giây đã mất. Vừa lúc ấy phi đạo chính bị pháo kích, máy bay cánh bằng chịu chết, nằm chờ vận may, mặc cho pháo đối phương dận dày đặc quanh vòm chứa. Còn các trực thăng thì mạnh ai bốc lên búa xua, bay cao tít để tránh cao xạ và hoả tiễn tầm nhiệt.
Trực thăng lên cao, rồi cũng phải gọi nhau từng chiếc liều mạng lao xuống cứu các tiền đồn. Phi công không dám giảm thấp vòng quay, giữ công suất, chỉ trực thốc lên, càng nhanh càng tốt…Thế rồi đêm ấy, trực thăng của Đề không còn cơ hội trở lại Biên Hoà nữa. Phi trường bị pháo kích triền miên. Trên thực tế phi đoàn Lôi Điểu tan tác từ đó…Cùng với sự tan rã của quân đoàn, chiều 28-4-1975 Đề mới nhắn tin để bố mẹ và vợ về gần Khánh Hội, dùng trực thăng di tản ra Phú Quốc. Buổi chiều ấy, từ trên cao, nhìn lại hướng Tân Sơn Nhất. Ôi! khói ngút trời, thành phố tan tác hoảng loạn…
Định cư tại Hoa Kỳ, gia đình Đề lần hồi, làm đủ nghề. Sau đó Đề gắng giật được bằng cử nhân an sinh lao động, nhưng lương thấp. May nhờ vốn Anh ngữ thành thạo, bản thân có bằng phi công do Mỹ cấp, Đề lại theo tiếp khoá học giáo viên thoát hiểm. Bây giờ nghề đó thoát hiểm cho cả gia đình. Mấy năm nay nhiều người Việt ở San Diego đã về thăm Việt Nam. Dẫu có lúc nhớ cồn cào, nhưng Đề ngại ngần. Đọc sách báo hải ngoại, Đề không tin vào con người ở đây. Những con người xa lạ, và một thể chế có gì thán phục ?
* *
*
Công việc ở trung tâm SATA Xingapo, nơi Đề mới ký hợp đồng phục vụ, tuy xa nhà, nhưng lương và phụ cấp cao, nên đời sống ở hải ngoại của gia đình Đề cũng xếp hạng phong lưu. Là người châu Á quốc tịch Mỹ ở căn cứ không quân này, Đề hưởng lương ngoại quốc. Dù mới tới nhưng Đề hãnh diện với các đồng nghiệp ở đây. Họ không nghĩ Đề là người Việt, tưởng là người Thái từ Băng Cốc tới.
Phi công từ Hà Nội tới huấn luyện tại đây lương thấp. Pát-ti, một đồng nghiệp người Ca-na-đa của Đề bảo thế. Trung tâm SATA cung cấp cho Đề những thông báo sơ lược : Phi công từ Hà Nội, Vũng Tàu tới thụ huấn thoát hiểm tại SATA chủ yếu lái trực thăng dòng “Mi” mua của Nga. Số UH-1 còn lại của họ đã xong “thọ mệnh”. Trực thăng Nga không có trang bị thoát hiểm hiện đại. Việt Nam phải mua phao, phương tiện thoát hiểm của nước khác. Pát ti đánh giá: Máy bay “Mi” của họ bay rất hiệu quả.
Đề nhún vai nói với Pat ti:
- Ôi những chiếc Mi cũ kỹ, tôi biết rõ dòng này sản xuất từ Chiến tranh Xô-Đức. Phi công lái nó thì làm sao mà “khá” được. “Việt Nam Cộng hoà” trước đây đã có lúc tổng số trực thăng lên tới gần một ngàn chiếc hiện đại, sản xuất tại các hãng danh tiếng Hoa Kỳ. Ông có biết không ?
Pát-ti dè dặt bình luận: Tôi đã đọc một bài báo ở Anh quốc, họ mô tả rằng với máy bay Mi, phi công Việt Nam đã hạ cánh trong sương mù, gió quẩn xuống cao điểm Bạch Mã ở vùng cán xoong, nơi không lực Hoa Kỳ trước đây rất sợ “toạ độ chết” này. Họ còn dùng Mi hạ được xuống một tàu công vụ đậu ngoài khơi, trong điều kiện biển động không kém gì biển Bắc. Họ đã bay như thế để làm thủ tục giám sát chở người và cung cấp hậu cần cho các công ty dầu. Nhiều khi thời tiết xấu, tầm nhìn rất hạn chế, tốc độ gió hơn 20mét/giây, lại không có đài điểm dẫn đường, chưa có phương tiện cứu hộ tốt… Thật dũng cảm.
Đề thao thao :
- Chúng tôi trước năm 1975 có tới 6 sư đoàn không quân, vài chục phi đoàn trong biên chế. Ông thử hình dung, sẽ là ai, có thể thay phi công Việt nam đổ lực lượng ngay trên đầu địch quân? Chỉ có thể sinh ra những phi công tài ba từ số đông máy bay Hoa kỳ , và tần suất hoạt động cao như thế.
- Tôi đã đọc bài phóng sự của mấy tay bút phóng viên chiến trường trong tạp chí “Cánh Thép” viết về cuộc đổ quân của các ông xuống đường số 9, nam Lào.
- Tạp chí “Cánh thép” của không quân hải ngoại Việt Nam à? tiếc thay bây giờ nó chỉ để đăng hồi ký và…cáo phó.
- Nghe nói các anh biết săn nai bằng phi cơ ?
Đề nói lảng:
- Điều đó thể hiện sự tài hoa của các nhân viên phi hành Việt Nam. Lúc đông nhất chúng tôi có tới 500 phi công được đào tạo tại hai căn cứ huấn luyện ở Hoa kỳ. Tôi là số ít có bằng “ưu” trong khoá đó ! Thật tiếc… nếu không có “Tháng Tư đen”!
- Những phi công Viêt Nam các khoá trước, đã về học ở đây rất chăm chỉ và khiêm tốn. Họ có kết quả tốt. Nghe nói Việt Nam bây giờ nghành bay dịch vụ đang phát triển. Tôi đã bay 20 năm liền, bay biển trong khí tượng xấu là môi trường bay khó nhất mà tôi thấy. Vậy mà họ đã chiếm được hầu hết thị phần, giành thương quyền bay biển ở Việt Nam, trước sự tín nhiệm của nhiều hãng dầu lớn.
- Ồ, rồi xem! Đề thủng thẳng đáp
Sắp kết thúc khoá học, Đề để ý thấy một gã học viên điển trai, tuổi chắc non hơn Đề chút ít. Đề rất thích dáng cao ngăm đen và cái nhìn mạnh mẽ, tự tin của hắn. Nhưng hắn lại là người từ Hà Nội tới. gã tên là Thường, thuộc “bên kia”. Một thời anh ta đã là “đối tượng tác chiến”, nên Đề cũng dè dặt, ít chuyện với anh ta trong khi giảng dậy. Nghe nói anh ta đã có số giờ bay cao. Đã vậy Đề còn cố ý giành cho Thường một vài đầu bài khó…Nhưng rồi anh ta cũng vượt qua. “Chắc phải tốn nhiều công sức?”
Thế rồi các “học phần” cũng qua nhanh, phi công thụ huấn tại trung tâm đều đạt giỏi, riêng gã điển trai tên Thường chỉ đạt “khá” thôi.
Cho đến một buổi chiều, có bữa tiệc do Trung tâm chiêu đãi. “Thày” và “trò” bên bàn tiệc thật khoáng đạt, vô tư, nên mặc cảm “bên này, bên kia” với hai người Việt đã không tạo sự e dè. Vốt ca Hà Nội được mọi người tán thưởng, cùng Henissy XO xếnh xáng trong đáy cốc. Lại có mặt cả vài “ma đam” xinh đẹp. Tửu sắc tương phùng. Rượu vào thì nhời ra, mọi cách trở ngôn ngữ đều do thần Lưu Linh dàn xếp.
Trong một liếc nhìn bằng đuôi mắt, Đề thấy gã đẹp trai tên Thường khẽ một thoáng buồn. Có lẽ vì kết quả “chỉ là khá” chiều nay chăng? Lòng trắc ẩn của thằng đàn ông cùng lứa đã khiến Đề đứng lên. Tay cầm ly rượu Hà Nội, Đề tới bên Thường. Một câu chào, mời rượu tiếng Anh cho bằng hữu. Thường đáp thật chuẩn một câu ngắn, giọng Bắc Mỹ với một cái nhún vai khiêm nhường. Bốn mắt nhìn nhau trong động tác dốc ly sành điệu. Tiếng vỗ tay đôm đốp…Một bàn tay nhỏ nhắn tròn lẳn cũng cầm cốc tới chúc Thường một ly. Câu mời bằng tiếng Hoa trong giọng nữ ngọt ngào. Đôi mắt lúng liếng, yểu điệu, mà kiêu sa. Không bất ngờ, Thường đáp bằng một câu đúng giọng Quảng Đông tiền chiến. Cạn chén! Cô gái xinh đẹp - người tình của Trung tâm trưởng chém một tia nhìn sắc lẹm, vũ khí độc chiêu của phái đẹp. Tia chớp nguy hiểm đầy mãnh lực này có thể hút hồn viên phi công từ bất cứ cao độ nào rớt xuống đất. Nhưng trông kìa, gương mặt Thường bình thản, ném một cái nhìn vô cảm, lướt trên đầu người đẹp bay vút về miền vô cực. Cái nhìn khiến cho người đẹp sa sầm, trông mới thảm hại làm sao. Ly rượu trong tay nàng như chợt vỡ, ruợu rịn ra bên mép còn phơn phớt ria xanh. Ánh sáng đèn màu sao lúc này nhợt nhạt. Trong khoảnh khắc ấy, Đề thấy người mình rung lên một nhịp điệu lạ lùng. Tuyệt vời! Một thằng đàn ông đích thực, một cử chỉ kiêu hùng mã thượng!
Dường như không nóng mặt, Thường lại cầm một ly đầy tới bên Đề. Một câu mời bằng tiếng Anh. Vẫn ngữ điệu Mỹ, khàn đực, bất cần, đúng phoóc ngang tàng của dân miền Tây. Đề cũng không vừa, một câu Mỹ dài không tiết điệu, nhưng xiết giọng ở cuối câu đầy thách thức. Hai ly dốc ngược, bốn mắt lại nhìn nhau. Cái nhìn thăm dò dài tưởng chừng vô tận. Nhưng không! lạ thay, cái nhìn hằn học của “thày giáo Hoa Kỳ” bỗng bất ngờ biến dạng. Trong giây lát nó trở nên nồng nàn, thiện chí rồi thán phục. Y nhìn thẳng vào gã đẹp trai, bật ra câu nói bằng tiếng mẹ đẻ:
- Ông bạn, ông học bay ở trung tâm nào? Y nhìn đôi cánh bạc trên ngực áo kẻ đối tửu, tò mò, cố tìm một địa danh ngoại quốc. Nhưng chỉ thấy con số 1 to rõ.
- Tôi học ở Viêt Nam.
- Việt Nam ?
- Vâng! Trường sĩ quan Không quân NhaTrang
- Người Nga thuyết trình và thực hành?
- Không! giáo viên Việt Nam, giáo trình Việt Nam, phi trường Việt Nam, không vực Việt Nam.
Hết bất ngờ này đến bất ngờ kia, Đề muốn lảng sang chuyện khác. Nhưng vẫn không tránh được một câu hỏi thăm dò:
- Bạn đã tích luỹ đủ một ngàn giờ?
- Chín ngàn !
- Sao! Chín ngàn?
- Vâng!
- Giờ bay biển?
- Quá nửa
- !!!
Chỉ còn biết hỏi vậy, Đề gượng gạo cầm tay, kéo Thường mời ngồi.
Lúc này ngài Trung tâm trưởng quốc tịch Anh, ông cùng người đẹp người Hoa ban nãy, tới bên. Ông ta cao giọng, cầm tay Thường giơ lên, làm một cử chỉ tôn vinh người mời uống, nhưng cũng là để chữa thẹn cho người tình. Ông nói: “Tôi xin giới thiệu với các bạn, một trong nhiều phi công đến từ Việt Nam, người có chín ngàn giờ bay, một giáo viên bay biển đêm hạ cánh giàn khoan; Một phi công bay rừng núi Đông Dương thành thạo 4 thời tiết; Một chàng trai can trường, lãng mạn”…Xin mời!
Tiếng vỗ tay rộ lên thán phục. “ Bây giờ tôi có sáng kiến, các bạn ở đây, mỗi người sẽ hát một bài dân ca quê hương mình”…
Ly lại chạm chan chát, ly dốc ngược, vỗ tay tán thưởng. Có ai đó đã mang cây đàn Tây Ban cầm tới.
Ban đầu là một nhạc phẩm đồng quê, giọng thứ do chính ngài Trung tâm trưởng trình bày… thấy có tiếng ru của bà mẹ bên sông Thêm hiền từ. Khúc lặp lại có người đẹp cùng phụ hoạ; Một bài ca Nam dương của viên phi công người Gia Các Ta dịu dàng… thêm một khúc ru dân ca Thái… Bữa tiệc lúc này chuyển sang cung bậc trữ tình. Ngày mai mọi người sẽ chia tay nhau ra về, chẳng phải thế sao. Đề gật gật cái cổ đỏ gay theo tiết điệu. Đến lượt Đề, anh nhớ về Rạch Giá, Gò Công, với câu hát vang, trải mãi trên cánh đồng : Ầu ơ...Cái Rang , Ba Láng, Vàm Xáng, Trà No…có thương em anh mua một chiếc đò, để em lên xuống...thăm dò ý anh!
Nhìn đôi mắt liu riu, biết Đề đang “phê “ thực sự. Thường vỗ tay tán thưởng. Lại rượu và những thổ ngữ về rượu mà lạ thay ai cũng hiểu. Ca xong, Đề cầm cây đàn dúi vào tay Thường. Thường chận rãi tỉa gam la thứ hợp âm rải, réo rắt, và khe khẽ hát : Bèo dạt, mây trôi…Thương nhớ ờ ơ ai … Người đi xa có nhớ ,là nhớ… em vẫn mong chờ, sao chẳng thấy anh…Tiếng đàn dứt sau một hợp âm chùm, không gian như lắng lại. Lắng đến mấy giây sau mọi người mới bất thần vỗ tay tán thưởng. Đề bừng tỉnh, tự nguyện dịch cho mọi người ý lời bài hát. Y lại gần Thường tự tin ôm gã đồng hương, lắc lắc mấy cái, rồi nhìn mọi người với vẻ đầy tự hào. Ngay khi đó, một phi công người từ Hồng Công tới bên Thường, tay cầm ly rượu, anh ta nói tiếng Anh rất rõ: “Chào thày giáo” và quay lại nói với mọi người “Đây là thày giáo đã dạy tôi lái trực thăng Pu Ma”. Đề thảng thốt hỏi:
- PuMa ?
- Vâng Super Puma L2, anh ta đáp.
Đề lại ôm chầm lấy Thường lần nữa chặt hơn. Bất ngờ quá! Đề biết loại máy bay này do châu Âu chế tạo, chuyên dùng bay biển trong thời tiết khắc nghiệt, rất khó tính khi bảo trì sử dụng và…cũng đắt tiền. Hồng Kông mới chỉ có vài chiếc thế hệ cũ, nhiều nước từng thèm muốn sở hữu Super Puma L2 và muốn thuê thày đào tạo phi công…Ừ, Việt Nam có mấy chiếc đó! Đề thổ lộ : “Đồng hương ạ ! tôi chỉ quen loại HU thôi! Đã bay 3 ngàn giờ lận. UH-1A ấy mà , nó thật dễ lái và nhẹ nhàng. Giá như có nó ở đây, tôi sẽ dạy đồng hương, một giờ thôi, biết sử dụng liền.” Đề vớt vát câu chuyện.
Thường mỉm cười thật hiền. Đề không biết, anh đã là giáo viên bay HU-1A cho Không quân hoàng gia Cam-pu-chia từ năm 1989. Trước đó anh là phi công chiến đấu UH-1A, với gần ngàn giờ bay liên tục, tác chiến ở Biển Hồ và Pai Lin, nơi biệt danh “Vùng trời dày đặc hoả lực”của Pôn Pốt. Sau này Thường về bay dịch vụ cho ngành dầu khí.
Buông gã điển trai ra, Đề nhìn thẳng vào mắt, ngưỡng mộ nói: “Sẽ gặp lại đồng hương trong tháng này. Hôm nay là Mồng Chín ta đúng không ?” Rồi Đề bước nhanh tới quầy bar quay máy một lúc lớn giọng : “Em à ! hè này ta sẽ về Việt Nam. Đúng ! về Hà Nội Việt Nam em ạ. Anh có bạn ở đó .Vậy ha!” Cả mấy bàn tiệc vang tiếng cười, bởi chiếc đồng hồ trên quầy bar chỉ giờ ở San Diego lúc này đã là 0 giờ 35 phút. Chẳng thằng đàn ông nào dại dột gọi điện “báo cáo” vợ vào giờ này./.
Trần Danh Bảng