 |
| Tổng thống Mỹ Ô-ba-ma. Ảnh: Internet |
Quyết định gia hạn một năm lệnh trừng phạt chống Cu-ba mà Tổng thống Mỹ Ô-ba-ma ký hôm 14-9-2009 dường như đã làm tiêu tan hy vọng về sự thay đổi trong chính sách đối ngoại của Mỹ nói chung và với Cu-ba nói riêng. Rõ ràng quyết định trên trái ngược với những gì mà chính quyền Mỹ đã nỗ lực làm trong mấy tháng qua, hoặc ít nhất là trái ngược với tuyên bố rằng Mỹ sẽ chú ý lắng nghe hơn thay vì sự áp đặt.
Người ta đã quá quen với thông tin do chính quyền Mỹ công bố hằng năm rằng, Tổng thống Mỹ quyết định gia hạn thêm một năm đạo luật cấm vận chống Cu-ba. Quen, bởi vì từ năm 1970 đạo luật này được gia hạn mỗi năm một lần theo một điều khoản của "Đạo luật Giao dịch thương mại với kẻ thù". Mỗi một lần chính quyền Mỹ gia hạn đạo luật này là một lần gây thất vọng cho thế giới và gây thêm khó khăn cho nhân dân của hòn đảo Tự do. Và mỗi lần làm như vậy, người ta lại càng thấy rõ chính sách hai mặt của Mỹ trong vấn đề nhân quyền. Lệnh cấm vận chống Cu-ba được ban hành năm 1962 và đến nay Mỹ đã thực hiện liên tục 47 năm. Trên thực tế, ngay sau khi cách mạng Cu-ba thành công vào ngày 1-1-1959, Mỹ đã bắt đầu trừng phạt Cu-ba với mục đích bóp nghẹt cách mạng Cu-ba, đưa Cu-ba trở lại hệ thống chính trị, kinh tế do Mỹ chi phối. Như vậy, Cu-ba đã bị Mỹ bao vây trong suốt nửa thế kỷ qua. Theo thời gian, các biện pháp cấm vận, trừng phạt chống Cu-ba ngày càng tàn khốc, mà đỉnh điểm của sự tàn khốc ấy diễn ra trong 8 năm cầm quyền của cựu Tổng thống Mỹ G.Bu-sơ. Trước khi rời bỏ chiếc ghế Tổng thống Mỹ, ông G.Bu-sơ còn ký lệnh gia hạn một năm đối với đạo luật này vào ngày 12-9-2008. Nhiều nước trên thế giới bị Mỹ và các nước phương Tây cấm vận, nhưng không có nước nào bị "hành hạ" dai dẳng như Cu-ba. Vì tự do và phẩm giá của mình mà Cu-ba đã và đang tiếp tục phải gánh chịu những hậu quả nặng nề về mọi mặt do cuộc bao vây, cấm vận của Mỹ gây ra.
Hành động của Mỹ đã bị cả thế giới lên án. Trong 17 năm liên tiếp vừa qua Đại hội đồng LHQ đã bỏ phiếu thông qua nghị quyết lên án và yêu cầu Mỹ bãi bỏ lệnh cấm vận chống Cu-ba. Năm ngoái, với 185 phiếu ủng hộ, ba phiếu chống và hai phiếu trắng, Đại hội đồng LHQ đã thông qua nghị quyết "Sự cần thiết phải chấm dứt lệnh cấm vận kinh tế, thương mại và tài chính do Mỹ áp đặt chống Cu-ba". Ngay ở Mỹ, đã từ lâu nhiều chính khách, doanh nhân, giới tu hành… cũng kêu gọi chính quyền Mỹ huỷ bỏ cấm cận chống Cu-ba. Chính sách của Mỹ bao vây, cấm vận chống Cu-ba bị coi là vi phạm nghiêm trọng và có hệ thống luật pháp quốc tế, vi phạm nhân quyền không chỉ của người dân Cu-ba và các thương gia Mỹ, mà còn của cả các nước thứ ba muốn làm ăn với Cu-ba. Chính các công ty Mỹ cũng bị thiệt hại vì không làm ăn được với Cu-ba, chưa kể những cơ hội kinh doanh lớn ở Cu-ba trong tương lai, đặc biệt trong lĩnh vực dầu khí. Cu-ba mới phát hiện những mỏ dầu có trữ lượng lớn - thứ mà Mỹ rất cần.
Lên cầm quyền khi hình ảnh nước Mỹ bị "xuống cấp" nghiêm trọng trên thế giới, Tổng thống Mỹ Ô-ba-ma và ê-kíp của ông đã có những thay đổi theo hướng mềm dẻo và linh hoạt hơn trong chính sách đối ngoại. Việc ông tuyên bố sẽ nới lỏng lệnh cấm vận chống Cu-ba cũng phần nào giúp ông thu hút được phiếu ủng hộ của kiều dân Cu-ba, những người không thể giúp đỡ người thân của mình ở Cu-ba vì lệnh cấm hà khắc. Chính ông Ô-ba-ma từng thừa nhận rằng, chính sách cấm vận kinh tế mà Mỹ đã áp dụng đối với Cu-ba “không đạt được kết quả như mong muốn” và rằng, chính “Cu-ba đã cho Mỹ một bài học về giới hạn của cường quốc quân sự”. Từ đầu năm đến nay, Mỹ lần lượt công bố quyết định nới lỏng những quy định hạn chế kiều dân Cu-ba về nước, gửi tiền, hàng cho người thân… Phía Cu-ba cũng có những tuyên bố rất rõ ràng rằng, Cu-ba sẵn sàng đàm phán với Mỹ trong nhiều vấn đề liên quan tới quan hệ hai nước.
Đó là những dấu hiệu về sự cải thiện trong quan hệ giữa Mỹ và Cu-ba sau nhiều thập kỷ đối đầu căng thẳng. Cứ theo những dấu hiệu đó và những cam kết gần đây của Mỹ với các nước thuộc khu vực “sân sau” thì băng giá trong quan hệ Mỹ-Cu-ba sẽ sớm tan. Người ta kỳ vọng về một kỷ nguyên mới giữa Mỹ và các nước còn lại ở châu Mỹ đang đến gần. Vì vậy, quyết định ngày 14-9 vừa rồi của Tổng thống Ô-ba-ma được coi là sự bất ngờ và gây thất vọng. Điều đó chứng tỏ rằng, dù đang cố gắng thay đổi hình ảnh nước Mỹ nhưng ông Ô-ba-ma vẫn chưa thể vượt qua được những thế lực khác ở Oa-sinh-tơn với tư duy áp đặt cũ kỹ, vốn ăn sâu bám rễ trong chính sách của Mỹ đối với thế giới bên ngoài nói chung, với Cu-ba nói riêng. Có lẽ ông Mác-cô Au-rê-li-ô Gác-xi-a (Marco Aurelio García), cố vấn đặc biệt của Tổng thống Bra-xin, đã đúng khi nói rằng, tất cả những kỳ vọng về sự thay đổi trong chính sách đối ngoại của Oa-sinh-tơn đối với khu vực "đã tiêu tan". “Sự thay đổi” trong chính sách đối ngoại mà chính quyền Mỹ đang thực thi bắt đầu bị nghi ngờ về bản chất và sự nghi ngờ ấy là tất yếu.
KIM TÔN